Xung Đột và Ảo Giác

Nội dung chính
Comments

Phụ Lục

Xung đột là chuyện  thường ngày của con người ở bất cứ đâu và bất cứ khi nào. Nó dễ dàng xảy ra trong một con người, trong một gia đình hoặc trong một phạm vi lớn hơn, giữa những sắc tộc hay giữa những quốc gia; và mỗi khi xảy ra  nó dẫn tới sự phá vỡ cân bằng của kinh tế – xã hội, mang lại sự chết chóc cao hoặc thậm chí đưa đến tận thế! Vì vậy, nó là một vấn nạn lớn của nhân loại và  giải pháp cho nó là  điều nên được đề ra.

Trong đạo Phật, xung đột có nguồn gốc từ những hý luận vọng tưởng được xem như một pháp hữu vi và bất thiện, và nó cần được chuyển hoá. Trong 45 năm thuyết pháp của Ngài, Đức Phật thuyết giảng rõ ràng về hai điều: Khổ và diệt khổ. “ Này các tỷ kheo, xưa cũng như nay, Ta chỉ thuyết giảng về khổ và diệt khổ.”

Trong bài pháp đầu tiên tại Ba La Nại khoảng hai ngàn sáu trăm năm trước đây, Đức Phật chỉ ra nguồn gốc của sự đau khổ: tham ái hay nguồn gốc sâu xa là tà kiến. Trong một bài pháp khác, Ngài dạy rằng, một người trí không có những hý luận, vọng tưởng thì không có tranh chấp với ai ở đời:

 “Này các tỷ kheo, dù bất kỳ nguyên nhân nào khiến hý luận vọng tưởng tấn công một người mà người ấy không hoan hỉ, không chào đón, không nắm giữ thì ở đấy có sự đoạn tận của những tùy miên: tham, sân, kiến, vô minh, chấp gậy, chấp kiến, tranh cãi, tranh chấp, xung đột, xung khắc, buộc tội, phỉ báng, nói dối. Bằng những cách này thì những trạng thái ác, bất thiện được chấm dứt không có dư tàn.”

Một thái độ như vậy sẽ dập tắt mọi tranh cãi, tranh chấp, chiến tranh và tất cả những pháp bất thiện. Lời dạy của Ngài đã được khéo léo giải thích bởi ngài Ca Chiên Diên, một đệ tử của ngài, như sau:

 “Nhãn thức khởi lên do mắt và sắc; sự gặp gỡ của ba pháp này là xúc, rồi xúc duyên sinh cảm thọ; cảm thọ duyên sinh tưởng; tưởng duyên sinh suy tư; suy tư duyên sinh hý luận – vọng tưởng, rồi chúng tấn công một người thấy sắc trong quá khứ, trong tương lai, trong hiện tại. Và nhĩ thức khởi lên do tai và tiếng…Và tỉ thức khởi lên do mũi và hương…Và thiệt thức khởi lên do lưỡi và vị…Và thân  thức khởi lên do thân và xúc…Và ý thức khởi lên do tâm và đối tượng của tâm. Sự gặp gỡ của ba pháp này là xúc, rồi xúc duyên sinh cảm thọ; cảm thọ duyên sinh tưởng, tưởng duyên sinh suy tư; suy tư duyên sinh hý luận-vọng tưởng, rồi chúng tấn công một người nhận thức đối tượng của tâm trong quá khứ, trong tương lai, trong hiện tại.”

Ca Chiên Diên cũng thêm rằng khi không có sự gặp gỡ của ba pháp thì không có sự tấn công của hý luận và vọng tưởng.

Và những ai bị hý luận, vọng tưởng sai khiến thì có tà kiến. Đức Phật nói rằng thế giới thường đặt quan điểm vào hai điều, hiện hữu và không hiện hữu. “Có” là một thái cực; “không có” là một thái cực khác. Do tham đắm chúng mà thế giới bị trói buộc. Những vị thánh thì vượt ra khỏi giới hạn của sự tham đắm này. Tránh xa hai thái cực, Như Lai thuyết giảng pháp Trung Đạo, theo đó mà chân lý được tìm thấy.

“ Này Ca Chiên Diên, phần đông thế giới này bị trói buộc bởi dính mắc, chấp thủ và định kiến . Nhưng điều này [với một chánh kiến] không trở thành  dính mắc và chấp thủ ngang qua sự dính mắc và cháp thủ đó, quan điểm, định kiến, xu hướng cơ bản; vị ấy không năm giữ ‘cái tôi’. Vị ấy không  giao động hay nghi ngờ rằng khổ do duyên sinh đang sinh khởi và khổ do duyên diệt đang diệt tận . Nhận thức của vị ấy không bị phan duyên. Này Ca Chiên Diên,  như vậy được gọi là ‘ Chánh Kiến’.

“Tất cả hiện hữu”: này Ca Chiên Diên,  là một cực đoan. “Tất cả không hiện hữu”, là cực đoan thứ hai. Không chạy theo những cực đoan này,  Như Lai thuyết giảng Pháp trung đạo.

Pháp bây giờ, theo Long Thọ (Nāgārjuna ) – nhà tư tưởng và diễn giải lỗi lạc của Phật giáo, được gọi là Śūnyatā (không tánh). Theo ngài, Śūnyatācó nghĩa là các pháp bất khả đắc (aprāptvya-śūnyatā). Các pháp hiện hữu một cách tạm thời và không gì là thường hằng theo luật Duyên Sinh (Pratītyasamutpāda). Hiện hữu chỉ tạm thời và không cố định. Ngay cả không hiện hữu cũng chỉ tạm thời và cũng không cố định.  Vì vậy, cả hai đều không thực hữu và không thực không. Phủ định những tà kiến của sự tham đắm vào bất kỳ cái gì kể cả hai cực đoan là Trung đạo (Madhyamāpratipad). Phủ định và chỉ có phủ định mới có thể dẫn đến cái đích Tuyệt đối, Chân lý tối hậu hay Niết bàn. Và, đó chính là thuyết Bát bất do ngài đề ra trong bài kệ mở đầu của Trung  Luận (Mūlamadhyamakakārikā), như sau:

“Tôi đảnh lễ Bậc Toàn Giác,

Vị đạo sư tối thượng đã dạy,

Lý duyên sinh,

Niềm vui diệt tận mọi kiến chấp thế gian,

[Ở đó, mỗi sự việc được “đánh dấu” bằng]:

Không sinh, không diệt,

Không đoạn, không thường,

Không một, không khác,

Không đến, không đi

Cái Tuyệt đối là không tánh và tất cả mọi thứ cũng không tánh. Tuy nhiên, thật không đúng khi cho Không tánh như là một loại  Tuyệt đối  hiện diện đằng sau hoặc  làm nền tảng cho thế giới hiện tượng, vì “Niết Bàn không khác với sinh-diệt.” Nó không là một thực tại riêng biệt. Đến đây, Không tánh có nghĩa là không quan điểm hay không học thuyết; kể cả  Tứ diệu đế (Cattāri-āriyasaccāni) – bài pháp đầu tiên của đức Phật  cũng không đúng về phương diện tuyệt đối. Chỉ Chân lý tuyệt đối mới không nương tựa vào bất kỳ thứ nào khác; nó là cái  thật rốt ráo.

Ngày nay, trong một vài nghiên cứu về não bội đã làm người ta chú ý như là: “Việc nghiên cứu về sự hoán đổi cơ thể chỉ ra rằng ‘cái tôi’ là một sự đánh lừa của tâm thức” theo tạp chí the Guardian. Theo đó, những nhà nghiên cứu não bộ đã thành công trong việc đánh lừa và làm cho người ta nghĩ rằng là mình đang ở bên trong một cơ thể của người khác hoặc một hình nộm bằng nhựa, nghĩa là, nhận thức của con người có thể là ảo giác.

Trong thời đại ngày nay, bất kỳ loại xung đột nào cũng dẫn đến đau khổ. Tệ nhất là dẫn đến một cuộc chiến tranh hạt nhân hoặc những thứ tương tự khởi lên từ những vọng tưởng bất thiện, nó là công cụ tàn bạo gieo rắc khổ đau cho tất cả mọi loài, hủy diệt sự sống trên hành tinh chúng ta. Là những Phật tử Việt Nam, chúng tôi nỗ lực hết sức để khởi động bánh xe hòa bình bằng sức mạnh của sự đòan kết với đồng bào trong trách nhiệm xây dựng lại quê hương thời hậu chiến. Chúng tôi hoạt động để mở rộng sự đoàn kết với mọi dân tộc trên thế giới, tạo những điều kiện để phát triển sự hợp tác hữu nghị và chung sống hòa bình, nỗ lực tạo ra nhiều khu vực phi hạt nhân trên toàn thế giới để bảo vệ sự tồn tại của toàn thê nhân loại.

Hơn bao giờ hết, Phật tử Việt Nam khắc sâu lời dạy của đức Phật, vị Đại Đạo sư, :

“Chiến thắng sinh thù oán,

Thất bại chịu khổ đau,

Sống tịch tịnh, an lạc,

Bỏ sau mọi thắng bại.”

Để xây dựng một cảnh giới Niết bàn ngay tại thế gian này, chúng ta nên bắt đầu từ đâu? – Từ chính mỗi người chúng ta. Nếu không có con người khỏe mạnh làm sao chúng ta có thể mong đợi được một mối quan hệ xã hội lành mạnh. Nếu những tư tưởng tánh không hoặc bất nhị (advayatā) ngược lại với những  hý luận, vọng tưởng không  thẩm thấm sâu trong nội tâm của mỗi người thì làm sao chúng ta có thể mong đợi có được một thế giới hòa bình và hoà hợp thật sự.

Thích Tâm Đức

(Bài phát biểu tại Vesak 2011 được tổ chức bởi Liên Hiệp Quốc, NY) 

     

                                                               

Nội dung chính
Comments