Chào mừng quý vị ghé thăm trang nhà tamduc.net.vn - Kính chúc quý  vị  thân tâm thường lạc, vạn sự kiết tường như ý
Thực Hành › Bài viết
26/12/2019
Thiền, sức khỏe, chuyển hóa xã hội_ bài bổ túc
Tứ Niệm Xứ (P. Satipatthana Sutta), cũng gọi là Kinh hay Thiền Tứ Niệm Xứ. Đây là bài kinh quan trọng dạy cách Thiền để được Tâm An (Samatha) Trí Sáng (Vipassana) và giải thoát.

THIỀN TỨ NIỆM XỨ

(Bài bổ túc)

Image, Buddha, Meditation, Faith

 

                                  Hồng Quang


         Tứ Niệm Xứ (P. Satipatthana Sutta), cũng gọi là Kinh hay Thiền Tứ Niệm Xứ. Đây là bài kinh quan trọng dạy cách Thiền để được Tâm An (Samatha) Trí Sáng (Vipassana) và giải thoát. 

        Để tránh tình trạng đa thư loạn tâm, nên tôi chỉ trình bày Thiền Tứ Niệm Xứ là một trong “37 phẩm trợ đạo” của kinh. Gồm có: Tứ Niệm Xứ, Tứ Chánh Cần, Tứ Như Ý Túc, Ngũ Căn, Ngũ Lực, Thất Giác Chi và Bát Chánh Đạo.

      Thế giới ngày nay, con người không có thì giờ; vừa đi vừa chạy. Do đó, trình bày giản đơn có lẽ được đa số ưa chuộng hơn.    

      Trong tác phẩm “Thiền, Sức Khỏe và Chuyển Hóa Xã Hội”, tôi cố giản lược các phương pháp định tâm để độc giả dễ theo dõi. Nhưng có người vẫn than “Làm thế nào để định tâm?” Vì thế, bài viết nầy như là một bổ sung, giúp độc giả, lúc thiền, có được sự định tâm dễ hơn. Nếu vọng tâm vẫn còn tiếp diễn, ngồi thiền sẽ không có kết quả.

Kinh Tứ Niệm Xứ dạy về Thiền và phương pháp định tâm qua bốn phép quán: Thân, Thọ, Tâm, Pháp. Quán thân bất tịnh, Quán thọ thị khổ, Quán tâm vô thường và Quán pháp vô ngã. 

Bốn phép quán nầy làm cho hành giả dễ định tâm thay vì tâm cứ chạy lăng xăng bên ngoài thân. Nếu tâm và thân hợp nhất (nhất như) thì thiền sinh sẽ có một đời sống rất ấn tượng, ít bệnh tật, hạnh phúc, an lạc và cảm nhận được sự giải thoát ngay trong cuộc đời nầy.

BỐN PHÉP QUÁN

  1. Quán Thân Bất Tịnh: Con người thường nghĩ lung tung (vọng tâm), nhất là lúc ngồi thiền. Tâm như vượt ra ngoài thân và suy nghĩ những thứ không đâu như, ta đẹp hoặc xấu hơn người khác. Hoặc người nầy đẹp hơn người kia. Ông ấy đẹp trai, cô kia làn da như sắc nước hương trời…Trong lúc thiền, đầu ta thường xẩy ra các trường hợp nói thầm như thế. 

Muốn chấm dứt tình trạng vọng tâm như vừa nói, ta nên nhận biết rõ ràng rằng, sau làn da mỹ miều, nếu có, chỉ là “một bao” chứa 32 bộ phận trong cơ thể như tim, gan, tỳ, phế, thận … và các đồ dơ bẩn nào là phân, nước dãi, máu, mủ, đàm, gèn v.v...chứ có gì đáng cho ta tham đắm đến nỗi phải bận lòng suy nghĩ quá nhiều để chuốc thêm khổ lụy?

 Quán như vậy, không phải là để bi thảm hóa cái thân bất tịnh nầy, nhưng để giúp hành giả dễ xa lìa vọng tâm. Nguyên Thỉ Phật Giáo gọi phép quán nầy là “Quán thân trong thân”. 

  1. Quán Thọ Thị Khổ: Thọ có nghĩa là cảm thọ, cảm giác. Cảm giác vui, khổ hoặc không vui không khổ. Tất cả những cảm giác ấy đều tạm bợ như gió thổi mây bay. Do vậy, không thể có hạnh phúc thật sự lâu dài. Thí dụ: tâm (vọng tâm) ta cảm thấy vui lúc trúng số. Buồn lúc phải xa lìa người thương. Hoặc tâm thường than vãn những chuyện quá khứ, hay nhớ lại những lời thị phi đã qua rồi. Lúc có những tâm trạng ấy, chúng ta nên ý thức rằng quá khứ đã trở về với dĩ vảng không nên khơi lại nỗi khổ niềm đau. Tương lai thì chưa đến, không nên vẽ ra những thảm não vốn chưa hiện hữu. 

Nếu ta không bám víu những nỗi khổ cũng như niềm vui thì tâm sẽ được thanh thoát nhẹ nhàng. Đó là mục đích của phép quán nầy.

  1. Quán Tâm Vô Thường: Tâm cũng gọi là thức, chúng phát sanh và hoại diệt trong từng giây phút. Tâm (vọng tâm) có tham lam, sân hận, si mê, đố kỵ….Chính chúng ta tự làm cho mình đau khổ vì muốn mà không được, giận hờn cũng không giải quyết được gì. Do vậy, ta nên đem lòng từ bi thay cho ghen ghét. Cho vui, bỏ giận. Theo chơn bỏ vọng. Theo chánh bỏ tà, ta sẽ cảm thấy thanh thản hơn.

  2. Quán Pháp Vô Ngã: “Pháp” là thế giới hiện tượng, là những vật mà chúng ta thấy và biết được. Chúng không thực có, chúng là giả hợp. Thí dụ: Cái bàn là do gỗ, đinh, công thợ ghép lại mà thành. Thân con người cũng không thực có mà do sự kết tập của tinh cha huyết mẹ. Do sự kết tập của “đất” (thức ăn), nước (máu), gió (hơi thở), lửa (chất ấm). Nếu thân người là thật có thì nó phải mãi mãi tồn tục. Nhưng thực tế, sau khi chết, thân sẽ trở về với “cát bụi”. Thiền sinh biết rõ như thế để không bám víu, không nô lệ cái thân nầy. Nhờ vậy mà tâm được an nhàn tự tại. 

Để có kết quả tốt trong việc hành thiền hoặc đạt được các tầng sơ thiền, nhị thiền…, hành giả nên chọn một trong 4 đề mục nêu trên để quán. Thí dụ, người có nhiều tham dục, nên chọn phép Quán Thân Bất Tịnh. Cách chọn cũng không nên cứng nhắc. Tùy theo tâm để chọn một, hai, ba hoặc cả bốn đề mục (xứ) để quán.

 Thực hành 4 phép quán đó có nghĩa là ta nhận biết rõ về thân, về cảm thọ, về tâm (vọng tâm) và về pháp mà không phê phán xấu, tốt, chánh, tà, chơn, giả. Có nghĩa là thấy 4 yếu tố như chúng là thế.

 Con người khổ vì khơi lại nỗi đau của quá khứ. Buồn lúc nhớ lại niềm vui đã mất.   

Tham Sân Si, là ba độc tố (three poisons) rất tai hại, chúng dẫn ta vào đường tật bệnh trong hiện tại, và ngăn cản phạm trù chứng đắc trong tương lai. 

CHỈ và QUÁN

Thiền Chỉ: Chỉ là dừng lại. Thiền giả tập trung tâm vào một đối tượng mà không suy nghĩ vào một vấn đề nào khác. Thí dụ: Lúc Thiền, chúng ta tập trung tâm vào giữa hai chặn mày, vào trên đỉnh đầu hay lỗ rún. Nếu tâm tán loạn, thì nhẹ nhàng đem tâm trở về với hơi thở.

Muốn dễ định tâm hơn, hành giả hít vào, thở ra: đếm 1 (đếm thầm trong đầu). Hít vào, thở ra: đếm 2. Cứ tiếp tục hít vào thở ra đếm  3,4,5…đến 10. Rồi trở lại đếm 1. Đếm không ít hơn 5 và không quá 10 sẽ dễ định tâm. Lúc tâm đã định, thiền giả không cần đếm. Tâm tập trung vào một đối tượng hoặc dõi theo sự hít thở. 

Thiền Quán: Quán có nghĩa là dõi theo; biết mình đang làm gì. Hít vào, tâm dõi theo hay biết rõ là ta đang hít vào. Thở ra, tâm dõi theo hoặc biết ta đang thở ra, ăn biết ta đang ăn, uống biết ta đang uống v.v.. 

Hành động biết như thế có ích lợi gì? Thông thường, con người tâm và thân không đi chung với nhau. Nói cách khác là tâm ở ngoài thân (tâm viên ý mã). Lúc hít, thở, đi, đứng, nằm, ngồi…, tâm ta biết một cách rõ ràng là ta đang làm từng động tác ấy, chứ không phải tâm chạy tán loạn lung tung (vọng tâm). 

Ngồi thiền mà cảm thấy mệt là vì ta suy nghĩ đủ thứ. Lúc suy nghĩ, não bộ không những phải cung cấp một số năng lượng cho sự suy nghĩ, mà những điều chất chứa trong tàng thức lâu ngày cũng được khơi dậy. Nếu quá khứ có những nỗi khổ chưa được xóa nhòa, tâm ta sẽ buồn và có thể tạo những ác mộng. Quá khứ có những niềm vui nhưng chưa trọn, chúng ta sẽ tiếc nuối và ham muốn thỏa mãn. Các trạng thái tâm lý nầy sẽ đưa ta đến sự căng thẳng (stress). Qua bài thứ 2 trong sách, chúng ta đã biết, có từ 60-90 % bệnh tật sinh ra là do căng thẳng. Và Thiền có khả năng làm giảm căng thẳng nên Thiền có khả năng trị bệnh.

Tóm lại, trong cuộc sống, chúng ta phải an vui bằng mọi giá. Và lúc Thiền, phải định được tâm trong tất cả các tình huống. Đi, đứng, nằm ngồi…phải ý thức. Nghĩa là phải biết chúng ta đang nói, đang đứng, đang đi…Làm việc nào biết rõ việc đó (chánh niệm: mindfulness). 

Bên cạnh Thiền, chế độ ăn uống nên có nhiều rau, củ, quả, ít thịt, cá và cẩn thận số lượng đường, muối, dầu và bột ngọt trong các thức ăn. Nên theo con đường trung đạo; đừng thái quá, cũng chẳng bất cập. 

Ngoài ra, tập thể dục như đi bộ mỗi ngày khoảng một giờ, hoặc thiền hành tối thiểu vài chục phút cũng không thể thiếu trong cuộc sống đời thường.

Cầu chúc quý vị mạnh khỏe hơn, thông minh hơn, đẹp hơn, trẻ ra già chậm, sống tràn đầy hạnh phúc qua sự diệu dụng của Thiền. 

An vui thì khỏe mạnh ưu phiền sẽ ốm đau. Mong quý vị đừng quên.

                              Hồng Quang

                              12.12.2015

Bài viết, dựa theo DVD của TT. Thích Nhật Từ:

https://www.youtube.com/watch?v=P6y2-5tO8Ro, Apr 24, 2013


: Thực Hành › Bài viết
: Thực Hành › Bài viết
Đang cập nhật dữ liệu...
 
Mọi ý kiến đóng góp hay gởi bài, vui lòng liên hệ : thaytamduc@gmail.com - ĐT: 0969238013