Chào mừng quý vị ghé thăm trang nhà tamduc.net.vn - Kính chúc quý  vị  thân tâm thường lạc, vạn sự kiết tường như ý
Thực Hành › Bài viết
14/07/2016
Thiền, sức khỏe, chuyển hóa xã hội_2
“THIỀN có khả năng chữa trị bệnh tật, chống lão hóa, làm cho con người đẹp hơn, thông minh hơn, khỏe mạnh hơn, sống lâu và sống có hạnh phúc hơn”
---o0o---

Bài 2


THIỀN, TRỊ ĐƯỢC BỆNH. TẠI SAO ?

 

Hồng Quang

 

 

 

 
 

 

 

NĂM PHỤ ĐỀ CHÍNH TRONG BÀI:

 

1.      Cảm xúc và căng thẳng

2.      Hạnh phúc

3.      Thiền làm thay đổi cấu trúc

4.      Tình trạng và nguồn gốc căng thẳng

5.      Bnh tăng, già mau, gim th do căng thẳng.

 

 
 

Ngồi buồn vọc nước giỡn trăng,
Nước xao trăng lặn buồn chăng hỡi buồn
!

 

Lúc nước mặt hồ phẳng lặng, ta thấy bóng trăng dưới đáy. Cũng như thế, lúc vọng tâm lắng, chơn tâm xuất hiện. Hoặc lúc tâm yên, ta cảm nhận được hạnh phúc tràn trề. Chính đó là Thiền.

 

Kính thưa quý độc giả, bài trước đây “Thiền Sức khỏe”, tôi trình bày nhiều bằng chứng mà y giới và khoa học gia của các nước tân tiến đã thí nghiệm và cho thấy THIỀN có khả năng chữa trị bệnh tật, chống lão hóa, làm cho con người đẹp hơn, thông minh hơn, khỏe mạnh hơn, sống lâu và sống có hạnh phúc hơn”.

        Bài nầy sẽ trình bày tại sao con người không uống “thuốc tiên” không dùng các thức ăn trường sanh bất tử, nếu có, mà chỉ ngồi yên tĩnh mắt nhắm lim nhim ngày hai lần tổng cng vài chục phút, mà có thể trị được bệnh và có được các lợi ích thiết thực khác?

        Hơn hai ngàn năm trước một vị Giáo chủ đã tuyên thuyết “Vạn pháp do tâm tạo”. Tình trạng căng thẳng (stress) do tâm; làm cho chất hóa học cortisol xuất hiện, các tuyến nội tiết trong cơ thể sẽ tiết ra những kích thích tố để thay đổi môi trường và chức năng làm ảnh hưởng đến các bộ phận trong cơ thể, vì vậy mà có thể dẫn đến các bệnh như tim mạch, huyết áp và dạ dày cùng một số bệnh trong các bộ phận khác.

 

1. CẢM XÚC VÀ CĂNG THẲNG

 

 
 

Nguồn: emotionresearcher.com

Giận hờn, sợ hãi, khinh khi, buồn rầu, an lạc, ngạc nhiên

(Bắt đầu từ góc trái hàng  trên, theo kim đồng hồ)

Trong 6 cảm xúc nầy, chỉ có cảm xúc an lạc là có lợi cho sức khỏe mà thôi. Những cảm xúc còn lại làm cho con người căng thẳng (stress) theo từng cấp độ nhiều ít. Lúc bị căng thẳng, não bộ sẽ báo động cho tất cả các cơ quan tim, gan, tỳ, phế, thận. Các cơ quan nầy tiết ra các chất hóa học để cân bằng cơ thể. Chính các hóa chất nầy làm tổn thương lục phủ ngũ tạng và gây bệnh cho con người.         

 

Phản ứng của sự căng thẳng (Nguyên gốc tiếng Anh ở cuối bài)*

 

     (1) 

 
 

       Tâm chủ động, tâm tạo tác. Người nào có nhiều niềm vui thì ít bệnh và tuổi thọ gia tăng. Trái lại, ai cau có giận hờn, lo âu, sợ hãi thì dễ bị ốm đau cuộc sống chán chường và sự nghiệp dễ bị thất bại.

2. HẠNH PHÚC

Khoa học cho biết niềm an lạc có liên hệ đến vùng thùy não bên trái phía trước trán. Thiền giúp cho vùng nầy phát triển để gia tăng và kéo dài sự an lạc. Ngược lại, vùng tương ứng bên phải của não làm gia tăng hoạt động khổ đau như giận hờn, ghê tởm, buồn rầu…

 

 
 

 

Vùng não trước trán bên trái (màu đỏ) gia tăng hoạt động an lạc. Não trước trán bên phải (màu xanh) gia tăng hoạt động khổ đau.                                          
                                   

 
 
Giáo sư Sonja Lyubomirsky trong cuốn “The How of Happiness, a Scientific Approach to Getting the Life You Want”và các đồng nghiệp nghiên cứu và rất nhiều cuộc thí nghiệm, đã đưa đến kết luận là niềm an lạc đến từ ba yếu tố (2):

* Di truyền (Set Point) [50%].

* Tập luyện (Intentional Activity) [40%].

* Hoàn cảnh (Circumstances) [10%]

Như thế, hạnh phúc được hình thành:

HP= DT + TL+ MT

[Hạnh phúc=Di truyền+tập luyện+môi trường]

Trong sách “Làm thế nào để đạt được hạnh phúc đích thực” [[“The How of Happiness: A practical approach to getting the life you want”], giáo sư Sonja dùng hình ảnh chiếc bánh như trên để mô tả xuất xứ của nguồn hạnh phúc. Theo đó, hạnh phúc có được do di truyền 50%, sự cố gắng của cá nhân (nhờ tập luyện) chiếm 40% và hoàn cảnh (môi trường) chỉ chiếm 10% mà thôi.                  

    Trở lại sáu cảm xúc mà chúng ta thấy ở trên, nếu muốn có thêm hạnh phúc ngoài yếu tố di truyền, chúng ta nên nhìn đời bằng khía cạnh tích cực, luôn luôn an lạc vui vẻ trong cuộc sống vì an vui thì khỏe mạnh, ưu phiền là ốm đau.  Nói cách khác tâm luôn yêu đời, an vui tự tại, không dính mắc là “tâm Thiền” như bài thơ sau đây:

“Sống không giận, không hờn, không oán trách

Sống mỉm cười, với thử thách chông gai

Sống vươn lên, theo kịp ánh ban mai

Sống chan hòa, với những người chung sống

Sống là động, nhưng lòng luôn bất động

Sống là thương, nhưng lòng chẳng vấn vương

Sống yên vui, danh lợi mãi coi thường

Tâm bất biến, giữa dòng đời vạn biến.”

                    

 HOẶC

           “Ta từ sinh tử về chơi

Ngồi trên chóp đỉnh mỉm cười với trăng”.

Làm việc để nuôi sống gia đình và phát triển xã hội. Nhưng với Tâm Thiền, công việc có thể hoàn thiện nhanh hơn và tạo được bầu không khí thân mật với những người xung quanh.

An lạc và khổ đau có thể di truyền, nên chúng ta có thể nói rằng, tánh tình và lối sống vui buồn của bà mẹ, nhất là trong thời kỳ thai nghén, rất ảnh hưởng đến cuộc đời của đứa bé về nhan sắc, tính khí và thông minh.                                 

Ngày nay, các nhà thần kinh học đã tìm ra vùng làm phát sinh niềm an lạc trong bộ não cùng các mạch thần kinh chuyển vận niềm vui này. Do đó, sự thực hành làm phát sinh hỷ lạc trở thành dễ dàng và cụ thể hơn để mang lại nhiều ích lợi cho người thực hành nhờ định được tâm.

Theo bác sĩ Gregory Fricchione, M.D. Giám đốc Trung tâm Y Khoa về Thân/Tâm, lúc hành Thiền thì trạng thái sinh lý trong cơ thể được thay đổi, các gene sẽ hoạt động ngược chiều với sự căng thẳng. Do đó, bạch huyết cầu được gia tăng, hệ miễn nhiễm mạnh hơn và có khả năng chống lại các vi khuẩn và vi trùng làm hại cơ thể, và làm cho bệnh tật thuyên giảm (Nguyệt san “Tâm, Thái độ và Trí nhớ”, Mind, Mood and Memory, Sept. 2008. Vài đoạn trên được dẫn theo tài liệu của thầy Phụng Sơn cung cấp).

 
 
Y học cũng cho thấy, Thiền làm cho vùng não phía trước bên trái gia tăng niềm vui (như đã nói ở trên). Lúc đạt được trạng thái nầy thì người đó sẽ có các hiện tượng tâm sinh lý tốt lành:

* Tăng hạnh phúc, tăng bạch huyết cầu, tăng hệ miễn nhiễm và sức khỏe.

* Tánh tình tích cực, hoạt bát, lanh lợi trong việc giải quyết các khó khăn.

* Chất hóa học cortisol giảm, huyết áp thấp, nhịp đập của tim bình thường.

* Phục hồi nhanh sau những tai nạn.  

Thiền có khả năng làm cho gene hoạt động theo hướng tích cực khi DNA chuyển qua RNA và chuyển thành chất đạm. Chất đạm trong tế bào được hợp thành bởi một hổn hợp 20 chất acit amino (amino acids) khác nhau, có hình tương tự như một quả banh bằng dây quấn lại. Tất cả các bộ phận trong người chúng ta như tim, gan, bao tử, lá lách, ruột, phổi, xương, và tế bào thần kinh được tạo bởi các chất đạm này.   

                                                                                                                  

 
 

*DNA  →RNA → chất đạm

(Wikipedia, The Free Encyclopedia)

 

4.  THIỀN GIÚP TRẺ RA, GIÀ CHẬM, SỐNG LÂU

         (vui lòng xem thêm bài số 9 trong tác phẩm nầy)

                                                                                                         

 
 
 
Michael F. Roizen & Mehmet C. Oz

Bác sĩ Michael F. Roizen và bác sĩ Mehmet C. Oz, trong cuốn “Cẩm nang hướng dẫn cách trẻ ra, già chậm” (YOU: Staying Young: The Owner's Manual for Looking Good and Feeling Great. 2007), cho biết tuổi già liên hệ đến nhiều thứ trong cơ thể chúng ta (3):

Trong tế bào có những sợi nhiễm sắc thể (chromosomes) như những sợi dây quấn, cuối đầu dây có các chỏm nhỏ che chở gọi là telomeres, giống như dây buộc giày có hai đầu cứng để xỏ vào lỗ như hình dưới đây :

 

 
 

 
 

 

Mỗi lần tế bào sinh sản thì các telomeres bị ngắn dần. Chúng ta cần có chất telomeras (nhiễm sắc thể) để tái tạo chỏm cứng (telomere) bị mất dần [ “A Good Tip”, “…Every time a cell reproduces, that telomere gets a little shorter… You need a substance called telomerase to rebuild the cap”. The book listed abobve. Page 22. (Also reference #3)]. Lúc telomeres ngắn dần thì khả năng sinh sản cũng từ từ biến mất. Lúc tế bào không thể sinh sản để giúp cơ thể thì nó tự hủy (apoptosis). Xem hình bên dưới:

 
 

*Apoptosis increasing from normal cells (top) to apoptotic ones (bottom) [nửa phần trên; tế bào dần dần biến mất]

Tế bào càng chết thì cơ thể càng già. Cuộc nghiên cứu chia hai nhóm người có telomeres dài và ngắn. Người có telomeres dài thì sống lâu hơn người có telomeres ngắn đến 5 năm.

Telomeres có nhiệm vụ bảo vệ nhiễm sắc thể trong các tế bào, cũng như ngăn ngừa các tế bào thay đổi cấu trúc. Nếu tình trạng thay đổi bất thường xảy ra thì người ấy có thể bị ung thư.

Bác sĩ Roizen trong sách nói trên; báo động:"Những người bị căng thẳng thì có 50% telomeres ngắn hơn những người ít bị căng thẳng. Thiền làm giảm căng thẳng nên cũng làm giảm nguy cơ telomeres bị ngắn quá sớm do căng thẳng gây ra."

                                                            

 
 
 
Telomeres: ngắn dần lúc tế bào sinh thêm

5. BỆNH TĂNG, GIÀ MAU, GIẢM THỌ DO CĂNG THẲNG

Khi căng thẳng xuất hiện, hệ thần kinh giao cảm bị kích động, các tế bào thần kinh tiết ra chất norepinephrine và nang thượng thận tiết ra chất epinephrine hay adrenaline.          

Epinephrine làm cho tim và bắp thịt gia tăng hoạt động. Hệ đối giao cảm vận hành làm tiết ra chất acetylcholine để quân bình cơ thể. Hệ thần kinh nội tiết sản xuất chất CRH (corticotrophin-releasing hormone) để duy trì sự thăng bằng.            

Chất CRH được chuyển đến tuyến yên (pituitary gland). Tuyến yên tiết ra chất ACTH (adrenocorticotropic hormone). Chất nầy theo máu chuyển đến nang thượng thận để kích thích bộ phận này nhằm tạo ra chất cortisol. Chất nầy có nhiệm vụ tái tạo sự quân bình trong cơ thể’. Xin xem hình chuyển biến dưới đây.

CRH

 

 
 

 

 
 
Bác sĩ Herbert Benson cho rằng có từ 60% đến 90% bệnh tật do
do cá nhân tự tạo. Ông viết một cách “bóng bẩy” trong cuốn “The relaxation Response…“I envision a future in which medicine is as sturdy as a three-legged stool, balanced equally by three healing resources – medications, surgery and other medical procedures, and sel-care approachs. Ideally, medicine would call upon self-care for 60-90 percent of the every day problems that patients experience”(4).

Theo Bác sĩ  Jennifer Kegel, MD, Lancaster Radiology Associates, Ltd, trong bài THE POWER OF THE MIND Stress – the Missing Piece”, in trong Journal of Lancaster General Hospital, Spring 2013. Vol 8- No. 1. Trang 16 & 17 viết ‘Có từ 75-90% bệnh tật sinh ra là do căng thẳng”, và Thiền Chánh niệm có khả năng làm giảm căng thẳng, nên Thiền có thể chữa được bệnh tật. Bà tiếp, Bác sĩ Hebert Benson là người đầu tiên tìm thấy sự hiệu ứng của thư giản (Relaxation Response), và Tiến sĩ John Kabet-Zinn phát triển chương trình Thiền Chánh Niệm Giảm Căng Thẳng, hiện nay được các cơ sở y tế áp dụng cùng cả thế giới’[“…Herbert Benson, MD. of the Massachusetts General Hospital, and Jon Kabet-Zinn, PhD.,  of the University of Massachusetts Medical Center, were pioneers in the field of Mind-Body-Medicine. Benson was the first to discover the “relaxation response;”Jon Kabet-Zinn developed the Minfulness-Based Stress Reduction (MBSR) Program which is now used in hospitals, medical centers, and clinics around the world”] (The Journal of Lancaster General Hospital, đã dẫn. Vol. 8 - No.1. Trang 16-17), (5).

 
 

Qua đây, một lần nữa cho thấy, vai trò ưu việt của Thiền Chánh Niệm (Mind fullness Meditation) trong việc chữa trị bệnh tật.       

 

Tóm lược vài phần trình bày trên để độc giả dễ hiểu hơn.

               Lúc bị căng thẳng

 Hệ thần kinh giao cảm tự động thông báo cho tất cả các bộ phận khác trong cơ thể (như tim gan, tỳ, phế, thận…), để các cơ phận nầy tiết ra chất “hóa học” nhằm tái lập quân bình.

-   Tế bào thần kinh tiết ra chất (Norepinephrine).

-    Nang thượng thận tiết ra chất (Epinephrine).

Hai chất nầy làm tim và bắp thịt tăng hoạt động. Tạo tình trạng không tốt cho tim và ảnh hưởng xấu cho các cơ phận khác.

TÓM LƯỢC

Chúng ta không phải là lớp học y khoa. Do đó, chỉ nên hiểu sơ lược như sau: Lúc bị căng thẳng, cơ thể tiết ra hai chất hóc môn cực mạnh (Norepinephrine & Epinephrine). Hai chất nầy làm cho:

- tim đập nhanh hơn,

- phổi thở nhiều hơn,

- lượng đường trong máu gia tăng,

- áp suất huyết cao hơn,

- bao tử khó tiêu hóa thức ăn.

 Nếu tình trạng căng thẳng bị kéo dài thì bệnh sẽ phát sinh. Trong khi đó, THIỀN có khả năng làm giảm căng thẳng. Vì vậy nói THIỀN có thể chữa trị bệnh tật là một nhận định rất khách quan và khoa học.

  6.  TÌNH TRẠNG VÀ NGUỒN GỐC CĂNG THẲNG
Căng thẳng là gốc của bệnh tật. Những dấu hiệu của sự căng thẳng (Theo “Consumer Report On Health, http://pressroom.consumerreports.org/pressroom/2008/10/”, tháng mười năm 2008):

- Tâm: Giận, buồn, cáu, hoảng sợ, khó ngủ.

- Thân: bao tử khó chịu, ăn không tiêu, nhức đầu, mệt, bắp thịt căng, nghiến răng.

- Ăn nhiều hơn, hoặc bỏ ăn, ưa uống rượu.

Căng thẳng do hai nguồn chính:

a. Di Truyền: Gene chứa các yếu tố di truyền. Một số người có tình trạng nhạy cảm dễ mất ăn mất ngủ. Số người khác ăn ngủ dễ. Nhóm ba, giữa hai nhóm đó.

b. Hòan cảnh và môi trường:

         - Bị sách nhiễu tình dục lúc nhỏ.

         - Nghề nghiệp,

         - Làm việc nhiều,

         - Gánh nhiều bổn phận như chăm sóc cha mẹ bệnh, lo cho con học.

         - Gia đình bất ổn.

         - Đi đường kẹt xe

         - Môi trường ô nhiễm

Căng thẳng lâu sẽ thành kinh niên. Nếu trẻ em thì sẽ chậm lớn. Người lớn thì đời sống buồn chán, bệnh phát sinh như cao huyết áp, máu nhiều mỡ (cholesterol)…

7. CÁCH HÀNH THIỀN ĐỂ GIẢM CĂNG THẲNG

Có thể ngồi trên gối, trên ghế hay trên bậc thềm xi măng đều được. Mục đích chính là định được tâm trong thời gian hành thiền. Nhưng nếu ngồi được thế kiết già hay bán già thì tốt nhất. Vui lòng xem 5 cách ngồi và các phương pháp Thiền trong bài số 1“Thiền và sức khỏe”.

Ngoài 4 phương pháp Thiền đã trình bày trong bài vừa đề cập, chúng ta có thể thực hành thêm cách thở ĐAN ĐIỀN (Thở bụng). Xem hình bên dưới.

Thở bụng cũng có thể ngồi trên ghế, trên gối, trên thềm xi măng, có thể nằm. Thực hiện lúc nào mình muốn.

Cách thở đan điền: Hít vào bằng mũi và bụng phồng lên, thở ra bằng mũi và bụng xẹp xuống.

Hít vào và thở ra đều đặn, phồng, xẹp, phồng xẹp. Tâm dõi theo sự phồng xẹp.

 
                                                                            Hít vào, bụng phồng 
 
 
 

                                   Thở ra, bụng xẹp

 

8. THIỀN VÀ NÃO BỘ

Thiền và não bộ là một đề tài không dễ. Nhưng tiện đây, xin cống hiến quý độc giả vài điểm liên hệ sơ đẳng giữa Thiền và Não bộ đễ góp phần vào việc thấy rõ kết quả hơn lúc chúng ta hành Thiền.        

 
 

Tại chùa Vĩnh Nghiêm. Đêm 29.11.2011, chung kết thi Hoa hậu, 61 người đẹp của 19 dân tộc anh em đến từ các tỉnh, thành trong cả nước.


a. Điều gì xẩy ra lúc bạn ngồi thiền (What really happens when you meditate)

When you sit down to meditate, your brain waves shift and enter a deeper level of consciousness, (Lúc thiền, làn sóng não bộ chuyển sâu vào vùng ý thức).


 
 
 


          
 

 
         
 
          
 

 

Brain Wave Frequency (cycles per seconds)

Hình sóng não dao động:

14-21 cps and higher. 7-14 cps. 4-7 cps. 0-4 cps.

[ “Tâm” giao động 14-21+ vòng trong 1 giây đồng hồ. 7-14 giây. 4-7 giây. 0-4 giây ],

Lúc chưa Thiền, sóng não vận hành từ 14 đến hơn 21 vòng trong một giây đồng hồ [Hình Beta]. Lúc Thiền, tâm hơi định, sóng não từ 7-14 giây [H.Alpha]. Tâm định nhiều hơn, sóng não 4-7 giây [H. Theta], và cuối cùng là ĐẠI ĐỊNH, sóng não chỉ có từ 0-4 giây [H. Delta]. Delta là cấp độ rất tốt của người hành Thiền. Và trong trạng thái nầy, hành giả được xem như đã đạt đến Sơ Thiền.

b. Thiền và chứng nhức đầu (6)

 
 

Hình thứ nhất, lúc không Thiền và cơn đau nhức nhiều (màu vàng)  Hình nhì, lúc ngồi Thiền (meditation), cơn đau nhức biến mất (màu xanh) .

Thiền Chánh niệm có khả năng làm giảm sự đau nhức (7).

Phương pháp Thiền mà tôi trình bày là “Thiền sức khỏe” (meditation for health) chứ không phải “Thiền giác ngộ” (meditation for enlightenment) nên không sợ bị tẩu hỏa nhập ma. Những người tu theo pháp môn Tịnh hay Mật tông cũng có các kết quả gần như những người tu Thiền nếu định được tâm. Do đó, ngồi Thiền, đọc kinh, trì chú v.v. đều có khả năng chữa trị bệnh tật và làm cho con người có một đời sống hạnh phúc hơn. Ngoài ra, chế độ ăn uống và tập thể dục cũng rất cần cho sức khỏe của chúng ta.

Nhân tiện đây tôi muốn thưa thêm rằng có một số Sư cao tuổi, tại Việt Nam, ở trong môi trường tu tập nhưng lại bị bệnh nhiều hơn người thường mà đúng ra là phải ngược lại. Vì sao? Trước hết là do chế độ ăn uống. Thức ăn hằng ngày không đủ chất bổ dưỡng nuôi cơ thể. Trái lại, thức ăn có quá nhiều muối, nhiều đường, nhiều bột ngọt và dầu. Có nhiều vị công việc lại quá tải và thiếu tập thể dục. Nhờ có tu Thiền, Tịnh, Mật …, nên đa số Chư vị bệnh ngang đó mà đáng lẽ là nhiều hơn nữ                                   


                                     KẾT LUẬN

 

Nhiều năm qua khoa học gia và y giới phương Tây đã soi rọi một tia sáng lớn vào Thiền học và thấy rõ hơn mối tương quan giữa TÂM và THÂN, giữa THIỀN và SỨC KHỎE. Sự căng thẳng là nguyên nhân chính của bệnh tật. Và THIỀN có khả năng làm giảm căng thẳng, nên THIỀN có thể chữa trị bệnh tật.

Sinh già bệnh chết rồi ai cũng phải đi qua. Không ai mong cầu không bệnh; dù có mong cầu cũng chỉ phí công. Nhưng ít bệnh và sống đời hạnh phúc an lạc có lẽ cũng là tiên trên đời rồi.    

Thuốc Nam, thuốc Bắc và Âu dược cũng có giới hạn, nhiều phản ứng phụ và tốn tiền. Nên chăng? song song với y dược, mỗi người nên Thiền ngày hai lần, mỗi lần tối thiểu 10 phút, thân tâm sẽ tốt hơn, đẹp hơn, thông minh hơn, sống lâu và có hạnh phúc hơn, chống được bệnh và lão hóa.

Cá nhân là thành tố của xã hội. Do đó, những lợi ích của từng cá nhân có được từ việc hành Thiền sẽ góp phần không nhỏ cho việc canh tân đất nước. Dân giàu nước mạnh, xã hội văn minh phú cường chỉ có được lúc một dân tộc cường tráng, ngân sách chi tiêu y tế được giảm thiểu, học sinh, sinh viên thông minh hơn, người dân sống có hạnh phúc hơn…

Từ những nhận định trên, các tổ chức Y tế và Từ thiện, nên chăng, huấn luyện hằng trăm ngàn người biết vững về Thiền, để mở các trung tâm Thiền trị bệnh miễn phí tại các quốc gia nghèo như châu Mỹ La tinh và Phi châu, nơi có đến 30% dân chúng bị bệnh sida. Đó cũng là tu theo hạnh từ bi đích thực và sẽ là một đóng góp lớn cho sự ổn định, an sinh và hòa bình thế giới.

 

          

 
 

 

                           VÀI CÂU HỎI GỢI Ý

1.      Lúc b căng thng, tim đập nhanh, huyết áp cao, phổi thở nhiều, bao tử ăn không tiêu. Chữa trị bằng thuốc là chữa ngọn hay gốc?

2.      Thin có th góp phn vào chương trình dân giàu nước mnh xã hi văn minh phú cường?

3.      Hin nay có nhiều Trung tâm dạy Thiền chữa bệnh, kết quả rất tốt, nhưng không ít người bị tẩu hỏa nhập ma. Tại sao? Thiền mà chúng ta đang học tập có bị tẩu hỏa nhập ma không?

4.      Nhìn vào chiếc bánh hạnh phúc và tính di truyền. Nếu muốn, bạn có th sinh được nhng đa con hoàn ho hơn?

5.       Phần lớn bệnh do đâu mà có và phương pháp trị liệu?

 

                                                                      Hồng Quang

                                                                           4.4.2011

                                                                                

                               


                        TÀI LIỆU THAM KHẢO

 (1). Hình phản ứng của sự căng thẳng. Google: Photo or images of Neuroscience/stress/Brain Facts, 
https://www.google.com/search?q=Photo+or+images+of+Neuroscience/stress/Brain+Facts&tbm=isch&tbo=u&source=univ&sa=X&ved=0ahUKEwiln4To3Z3KAhXHHT4KHUKVBgwQ7AkIKQ&biw  =1280&bih=643#imgrc=YQ7TQ9gcR8osmM%3A,

(2).Lyubomirsky, Sonja “The How of Happiness, a Scientific Approach to Getting the Life You Want”. 2007, The Penguin Press, a member of Penguin Group (USA) Inc. Page 20&39.

(3).Oz, Mehmet C. MD and Roizen, Michael F. MD “YOU STAYING YOUNG. The Owner’s Manual for Looking Good and Feeling Great”. Seribner, An imprint of Simon & Schuster, Inc. 1230 Avenue of the Americas. New York, NY 10020. 2007. Page 22..

(4).  Benson, H, MD “The relaxation response”. First WholeCare edition published 2000. Reprinted in Quill 2001. Page xii.

(5). Bác sĩ  Jennifer Kegel, MD, Lancaster Radiology Associates, Ltd, cho thấy Thiền làm giảm căng thẳng, bà viết nguyên văn tiếng Anh trong cuốn THE POWER OF THE MIND Stress – the Missing Piece” “…Herbert Benson, MD. of the Massachusetts General Hospital, and Jon Kabet-Zinn, PhD.,  of the University of Massachusetts Medical Center, were pioneers in the field of Mind-Body-Medicine. Benson was the first to discover the “relaxation response;”Jon Kabet-Zinn developed the Minfulness-Based Stress Reduction (MBSR) Program which is now used in hospitals, medical centers, and clinics around the world”] (The Journal of Lancaster General Hospital. Spring 2013. Vol.8-No.1. Page 17). Thiền có thể chữa trị bệnh đau nhức qua đường link nầy:

https://www.researchgate.net/publication/284196218_Mindfulness_MeditationBased_Pain_Relief_Employs_Different_Neural_Mechanisms_Than_Placebo_and_Sham_Mindfulness_Meditation-Induced_Analgesia.

    (6). Hình, thiền và chứng nhức đầu, 

https://www.google.com/search?q=Images+and+photos+of+human+brain+when+meditation+?&tbm=isch&tbo=u&source=univ&sa=X&ved=0ahUKEwi8waP77Z3KAhXKRSYKHc98BnsQsAQIHA&biw=1280&bih=643,

(7). Thiền Chánh Niệm Làm Giảm Đau Nhức, https://www.researchgate.net/publication/284196218_Mindfulness_MeditationBased_Pain_Relief_Employs_

Different_Neural_Mechanisms_Than_Placebo_and_Sham_Mindfulness_Meditation-Induced_Analgesia.

(8&9). www. quangduc.com. Khi CongTamPhap-PhungSon

Ghi chú: Một số tài liệu và hình minh họa, dùng để viết bài nầy, do thầy Phụng Sơn cung cấp, nhưng Thầy không muốn tôi đề tên Thầy.

 

PHẢN ỨNG CỦA SỰ CĂNG THẲNG *

Khi bị căng thẳng, hệ thần kinh giao cảm (the sympathetic nervous system) bị kích hoạt. Chất Norepinephrine được tiết ra bởi các dây thần kinh, và chất epinephrine được tháo tiết từ các tuyến thượng thận (the adrenal glands). Bằng cách kích hoạt các thụ thể trong các mạch máu và các cấu trúc khác, các chất này làm cho tim và các bắp thịt gia tăng hoạt động.

Chất Acetylcholine được phát xuất từ hệ đối giao cảm (the parasympathetic nervous system) để quân bình cho cơ thể. Đường tiêu hóa được kích thích để tiêu hóa thức ăn, nhịp đập của tim chậm lại, và con ngươi của mắt nhỏ hơn. H thống thần kinh nội tiết cũng duy trì hoạt động bình thường trong cơ th. Chất Corticotrophine hormone (CRH) là một tuyến tiêu hóa (peptide) được hình thành bởi một chuỗi các chất axít amin, được phát tiết từ vùng dưới đồi não (hypothalamus), gồm các tế bào ở vùng dưới của não bộ hoạt động như một trung tâm điều khiển cho hệ thống thần kinh nội tiết.

Chất CRH đi đến tuyến yên (the pituitary gland) nơi đây nó kích thích và sản xuất chất adrenocorticotropic hormone (ACTH). Chất nầy (ACTH) theo máu đến tuyến thượng thận để tạo ra chất hóa học cortisol.

 

                         THE STRESS REACTION

[When stress occurs, the sympathetic nervous system is triggered.

Norepinephrine is released by nerves,

and epinephrine is secreted by the adrenal

glands. By activating receptors in blood vessels

and other structures, these substances ready

the heart and working muscles for action.

Acetylcholine is released in the parasympathetic

nervous system, producing calming

effects. The digestive tract is stimulated to

digest a meal, the heart rate slows, and the

pupils of the eyes become smaller. The neuroendocrine

system also maintains the body’s

normal internal functioning. Corticotrophinreleasing

hormone (CRH), a peptide

formed by chains of amino acids, is

released from the hypothalamus, a

collection of cells at the base of the

brain that acts as a control center

for the neuroendocrine system.

CRH travels to the pituitary gland,

where it triggers the release of adrenocorticotropic

hormone (ACTH). ACTH travels

in the blood to the adrenal glands, where it

stimulates the release of cortisol].

 

: Thực Hành › Bài viết
: Thực Hành › Bài viết
Đang cập nhật dữ liệu...
 
Mọi ý kiến đóng góp hay gởi bài, vui lòng liên hệ : thaytamduc@gmail.com - ĐT: 0969238013