Content on this page requires a newer version of Adobe Flash Player.

Get Adobe Flash player

Ứng Dụng › Bài viết
Bốn loại nhận thức - 15/04/2015
Cuộc sống khổ đau hay hạnh phúc tuỳ thuộc vào nhận thức. Có bốn loại nhận thức tương ứng cho bốn hạng người sau: Phàm phu - Hữu học - A la hán - Phật. Sự khác biệt giữa bốn loại nhận thức có liên hệ đến Thiền.
---o0o---

BỐN LOẠI NHẬN THỨC

(Trích từ bài kinh "Căn bản pháp môn" trong Trung Bộ Kinh thuộc Kinh tạng Pali, Phật giáo Nguyên thuỷ)

Cuộc sống khổ đau hay hạnh phúc tuỳ thuộc vào nhận thức. Có bốn loại nhận thức tương ứng cho bốn hạng người sau: Phàm phu - Hữu học - A la hán - Phật. Sự khác biệt giữa bốn loại nhận thức có liên hệ đến Thiền.

1) Phàm Phu: Cho dù họ có nhiều hay ít tri thức nhưng họ vẫn khổ đau, phiền não; cuộc sống của họ có thể đóng góp tốt đẹp hoặc tàn phá gây đau khổ cho xã hội. Do họ không biết pháp tu nên có thể đi đúng hoặc đi sai trong cuộc đời. Đặc điểm nhận thức của họ là 6 căn (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý) tiếp xúc với 6 đối tượng (sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp). Ở đây khó hiểu là ý đối với pháp (đối tượng nằm trong tâm). Ví dụ: mắt thấy ly nước, sau đó nhắm mắt lại, ta vẫn có thể hình dung ra ly nước; lúc này cái tâm hình dung gọi là ý, và hình ảnh cái ly nước trong tâm là pháp. Nên ta gọi là "ý đối với pháp".

Khi (6) căn tiếp xúc với (6) đối tượng sẽ tạo nên (các) tiến trình tâm (duyên sinh) như sau: (6) căn tiếp xúc (6) đối tượng --> thức (cái biết) --> xúc (xúc chạm của tâm với đối tượng mà ta đang biết) --> thọ (cảm giác thích, ghét, hoặc trung tính) --> tưởng (tưởng tượng) --> tác ý (suy nghĩ) --> hý luận, vọng tưởng. Ví dụ: Mắt thấy một người đẹp ngoài đường --> Biết đẹp --> Ngắm nghía --> Thích -->  Tưởng tượng... -->  Suy nghĩ...--> Si mê.

Đặc điểm nhận thức của Phàm phu được Phật gọi là Tưởng Tri (Sañjānāti). Tưởng Tri có 3 đặc điểm:

a) Tự ngã đối chiếu với đối tượng = Ngã kiến (Thấy biết hay quan điểm thế này, thế kia).

b) Tự ngã như / trong đối tượng = Ngã mạn (Tự cao, tranh hơn thua).

c) Tự ngã muốn chiếm hữu đối tượng = Ngã tham. 

Có 24 loại đối tượng bao gồm các sự vật, hịên tượng từ vật chất đến tinh thần, từ ma quỉ đến chư thiên, từ triết thuyết đến tôn giáo, từ hữu hình đến vô hình:

1-4: Bốn yếu tố tạo nên vật chất: a) Địa: là đất, hay chỉ những cái gì làm điểm tựa cho vật khác. b) Thuỷ: là nước, hay chỉ những cái gì có tính chất kết dính. c) Hoả: là lửa hay có nghĩa là sự sống. d) Phong: là gió, còn có nghĩa là sự tiến bộ, phát triển.

 5-6-7: Chúng sinh, Chư thiên (Tứ Thiên Vương thiên, Tam thập tam thiên, Đâu suất thiên, Dạ Ma thiên, Hoá Lạc Thiên và Tha hoá tự tại thiên) và Tạo hóa (Ma vương).

8-11: Bốn cõi Sắc giới: a) Sơ thiền (Phạm thiên,...); b) Nhị thiền (Quang âm thiên,...); c) Tam thiền (Biến tịnh thiên); Tứ thiền (Quảng quả thiên).

12: Thắng giả (vô tưởng).

 13-16: Bốn cõi Vô sắc giới: Không vô biên xứ, Thức vô biên xứ, Vô sở hữu xứ, Phi tưởng phi phi tưởng xứ.

17-20: Cái được thấy; Cái được nghe; Cái được cảm giác; Cái được biết.

21: Đồng nhất: Các triết thuyết nhất thể, nhất nguyên, hay các tôn giáo nhất thần.

22: Dị biệt: Các triết thuyết đa nguyên, hay tôn giáo đa thần.

23: Tất Cả: Chỉ cho Phiếm thần, quan điểm cho rằng mọi thứ đều do 1 đấng sáng thế tạo ra. 

24: Niết Bàn: có 5 loại, bao gồm các khoái lạc của giác quan và của sơ thiền, nhị thiền, tam và tứ thiền. Trong mỗi tầng thiền sẽ phát sinh một số cảm giác an lạc, thoải mái làm hành giả đắm say.

Phàm Phu: Không hành thiền --> chấp thủ, đắm say vào 24 pháp / đối tượng trên.

2) Hữu Học (Gồm có 3: a) Dự Lưu đoạn trừ Thân kiến, nghi, giới cấm thủ; b) Nhất Lai là Dự Lưu làm giảm hai yếu tố tham dục và sân;  c) Bất Lai là Dự Lưu đoạn trừ hai yếu tố tham dục và sân): Hành thiền --> chớ chấp thủ, đắm say vào 24 pháp / đối tượng trên, Nhận thức của họ là Thắng tri, Abhijānāti

 3) A La Hán (là Bất Lai đoạn trừ thêm 5 kiết sử làm chướng ngại tâm – sắc ái, vô sắc ái, mạn, trạo cử và vô minh): Không còn tham, sân, si. Hành thiền --> không chấp thủ, đắm say vào 24 pháp / đối tượng trên, Nhận thức của họ là Liễu tri, Parijānāti.

4) Phật: Là Vị A La Hán Chánh đẳng, chánh giác ; đã đoạn trừ chủng tử của luân hồi – sinh tử (nandi-rāga). Hành thiền --> đã không chấp thủ, đắm say vào 24 pháp / đối tượng trên, Nhận thức của họ là Tuệ tri, Pajānāti.

Kết luận: Bốn loại nhận thức trên được phân biệt theo tiêu chuẩn Thiền. Người không thiền và Nhận thức phan duyên (6 căn duyên với 6 đối tượng) đều được gọi là Phàm Phu. Chính Thiền Phật giáo giúp bổ khuyết khía cạnh đạo đức cho tri thức khoa học, tạo sự an vui và hạnh phúc bền vững cho nhân loại! 

Những bài viết khác trong mục: Ứng Dụng › Bài viết
Những bài viết khác trong mục: Ứng Dụng › Bài viết
Đang cập nhật dữ liệu...
 
Mọi ý kiến đóng góp hay gởi bài, vui lòng liên hệ : thaytamduc@gmail.com - ĐT: 0969238013