Content on this page requires a newer version of Adobe Flash Player.

Get Adobe Flash player

Ứng Dụng › Bài viết
Kỷ niệm ngày 30.4.1975 - Hòa giải dân tộc nhìn từ góc độ từ bi hỷ xả - 30/04/2014
Ngày nay, sau gần 40 năm kết thúc chiến tranh, thống nhất đất nước, để tỏ rõ lập trường quang minh chính đại nhằm gây lại khối đại đoàn kết dân tộc ở giai đoạn mới còn đầy khó khăn, trong quá khứ thực hiện chính sách hòa giải, nếu thực tế có những gì sai sót đáng kể thì nay nên mạnh dạn công khai nhìn nhận. Như thế sẽ có tác dụng loại trừ tất cả mọi định kiến và mặc cảm trong lòng dân tộc, làm cho mọi người đều được hả lòng hả dạ, từ đó chung tay xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

--- o0o ---


Sinh thời, vào năm 2005, cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt, trên một bài báo, khi nhắc lại chiến thắng nhân dịp kỷ niệm ngày 30.4 năm đó, đã từng viết: “Một sự kiện liên quan đến chiến tranh khi nhắc lại, có hàng triệu người vui, mà cũng có hàng triệu người buồn. Đó là vết thương chung của dân tộc, cần được giữ lành thay vì lại tiếp tục làm cho nó thêm rỉ máu”. Lời phát biểu chí tình chí nghĩa đầy nhân hậu này vừa nêu lên đã được hàng chục báo, đài cả trong lẫn ngoài nước đồng loạt trích dẫn, coi như một bản tuyên ngôn ngắn gọn nhưng sâu sắc về tinh thần hòa giải hòa hợp dân tộc, với nội hàm coi cuộc chiến tranh trong quá khứ chỉ là chuyện bất đắc dĩ vượt ngoài ý muốn của mọi người Việt Nam da vàng máu đỏ.

Tính đến hôm nay, cuộc chiến tranh Việt Nam chấm dứt ngày 30.4.1975 đã lùi xa vào dĩ vãng tròn 39 năm. Trong những khoảnh khắc thời gian này, mọi người chắc chắn sẽ còn nhớ đến nhân vật lịch sử Dương Văn Minh, người thuộc phía đối lập của “bên thua cuộc”, nhưng trong những giờ phút quyết định của lịch sử, ông đã hành xử trách nhiệm của mình với tư cách nguyên thủ quốc gia chế độ cũ sắp tan rã lúc đó một cách sáng suốt theo đúng tinh thần hòa giải hòa hợp dân tộc.

Như chúng ta đều biết, 15 giờ chiều ngày 28.4.1975, sau khi có quyết định của lưỡng viện Quốc hội trong tình hình khẩn cấp, tướng Dương Văn Minh làm lễ nhậm chức Tổng thống, cử ông Nguyễn Văn Huyền làm Phó Tổng thống, ông Vũ Văn Mẫu làm Thủ tướng, đồng thời bổ nhiệm một số bộ trưởng, trong đó Bộ trưởng Bộ Quốc phòng là một nhân vật dân sự (ông Bùi Tường Huân, Giáo sư Đại học Huế), để tỏ rõ thiện chí hòa bình, không muốn cuộc chiến tranh tiếp diễn.

Chủ trương căn bản ngay từ đầu của Chính phủ Dương Văn Minh là “ngưng bắn”, “không chng cự”, và vì thế nội trong ngày 29.4.1975 đã lần lượt cử 2 phái đoàn đại diện đến tiếp xúc với đoàn đại biểu của Chinh phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa min Nam Việt Nam để nêu rỏ ý định.

Ngày 30.4.1975, lúc 6 giờ sáng, sau khi nghe báo cáo đy đủ về tình hình quân sự, ông Minh cùng vài tướng lãnh dưới quyn đến Phủ Thủ tướng gặp Phó Tổng thống Nguyễn Văn Huyền, Thủ tướng Vũ Văn Mu và một số người trong nội các mới lập, họp bàn và quyết định không nổ súng và giao chính quyền cho Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam.

Đến 9 giờ 3O ngày 30.4.1975, Đài Phát thanh phát lời tuyên bố của Tổng thống Dương Văn Minh, nêu rõ: “Đường lối của chúng tôi là hòa giải và hòa hợp dân tộc"; “yêu cầu tất cả anh em chiến sĩ Cộng hòa ngưng nổ súng, và ở đâu thì đó; “Chúng tôi chờ gặp Chính ph Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam để thảo luận v lễ bàn giao chính quyền trong vòng trật t tránh sự đổ máu vô ích cho đồng bào”.

Hai giờ sau, lúc 11 giờ 30, xe tăng của quân giải phóng vào Dinh Độc Lập, đưa ông Dương Văn Minh và ông Vũ Văn Mu đến đài phát thanh để đọc tuyên bố đầu hàng vô điều kiện.

Có quan điểm khá ph biến cho rằng ông Minh tuyên bố đầu hàng đơn giản chỉ vì bị lâm vào cái thế hoàn toàn thúc thủ, nhưng theo một số nhân chứng lịch sử lúc by giờ, tướng Dương Văn Minh nhận lên làm Tổng thống không có ý để thương thuyết với phe cách mạng vì đã thấy không còn khả năng thương thuyết; cũng không có ý để tiếp tục chiến tranh vì lâu nay ông vốn chủ trương hoà bình, hòa giải hòa hợp dân tộc (xem Hồi ký không tên của Lý Quý Chung).

Ngày nay, xét diễn biến các sự kiện trong mấy ngày giờ quyết liệt của lịch sử, đa số người ta đều thừa nhận việc Tổng thống Dương Văn Minh cùng nội các của ông quyết định “khộng chống cự”, rồi “đầu hàng vô điều kiện”, là hành động sáng suốt thức thời vụ, giúp tránh thiệt hại vô ích thêm về nhân mạng và tài sản, góp phần kết thúc sớm cuộc chiến tranh. Đó là nghĩa cử nhân đạo vừa cao thượng vừa anh hùng của một người thật sự yêu nước, thương dân. Điều này về sau đã được cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt công khai thừa nhận trong một lần trả lời cuộc phỏng vấn liên quan đến vấn đề đang xét của tuần báo Quốc Tế (Bộ Ngoại giao) nhân dịp 30.4.2005.

Là một tướng lãnh cấp cao nhất trong quân đội Việt Nam Cộng hòa, thông thường phải có khuynh hướng chủ chiến, nhưng tại sao chính phủ do ông Minh đứng đầu lại có vẻ hiền lành chủ hòa với thiện ý cao nhất?

Ngoài những lý do đương nhiên về chính trị, cũng như những đòi hỏi khách quan của lịch sử cùng nguyện vọng hòa bình của dân tộc, chắc hẳn còn có một lý do quan trọng nữa có thể giải thích nguồn gốc thái độ và chủ trương hòa bình-hòa giải hòa hợp dân tộc của chính phủ này. Đó là tôn giáo: Tổng thống Dương Văn Minh và Thủ tướng Vũ Văn Mẫu đều theo Phật giáo, trong khi đó Phó Tổng thống Nguyễn Văn Huyền là người rất mộ Ki tô giáo. Đạo Phật là đạo của hòa bình, từ bi hỷ xả; Ki tô giáo là đạo của lòng bác ái vị tha, lẽ tất nhiên các ông đứng đầu này đều có khuynh hướng chung không muốn cho sinh linh phải bị tàn sát, trong bất kỳ điều kiện nào còn có thể tránh được.

Riêng ông Dương Văn Minh, được biết sinh năm 1916 ở tỉnh Mỹ Tho trong một gia đình theo đạo Phật, lễ giáo, nề nếp. Bản thân ông Minh cũng theo đạo Phật, nhân từ, thương người, sợ sát sinh, sợ phải giết người.Thấy ai bị nạn thì ra tay can thiệp, cứu giúp, cả đối với một số người thuộc chiến tuyến đối lập. Năm 1983, được Chính phủ chấp thuận, ông sang Pháp chữa bệnh và thăm con, sống cuộc đời đạm bạc, cuối cùng sang Mỹ ở với người trưởng nữ cho đến khi qua đời vào tháng 8 năm 2001 , thọ 85 tuổi.

Theo cựu dân biểu Dương Văn Ba (Những ngã rẽ, hồi ký, chưa xuất bản), một người thân cận từng ở nhờ thời gian khá dài trong tư gia của tướng Dương Văn Minh (số 3 Trần Quý Cáp), thì ông Minh là “loại người trầm lắng, suy tư dù gốc của ông là một quân nhân. Triết lý của ông là triết lý trầm lắng của Phật giáo, ông không đua chen, không sân si; ông thuộc vào loại thấy đủ biết đủ, thấy nhàn biết nhàn. Đó là một loại triết lý pha lẫn giữa Phật giáo và Lão giáo. Ông sống khá bình dị, hòa mình với mọi người, đa số bạn bè, bà con đều thương ông”.

Trong những ngày chấp chính ngắn ngủi và khẩn cấp, Tổng thống Dương Văn Minh giữ mối liên lạc rất chặt chẽ với Thượng tọa Thích Trí Quang. Họ trao đổi vấn đề gì với nhau trong những giờ phút quyết liệt của lịch sử thì hầu như không ai biết rõ, vì sau đó cả hai người đều kín tiếng. Chỉ biết, cũng theo cựu dân biểu Dương Văn Ba, trong tuần lễ đầu tiên sau khi ông Minh được thả từ Dinh Độc Lập ra, Thượng tọa Thích Trí Quang bất ngờ có đến thăm ông ở số 3 đường Trần Quý Cáp. Hai người đã thân tình trò chuyện khoảng 30 phút nhưng chỉ thăm hỏi nhau về sức khỏe chứ không bàn tán bất cứ điều gì về chính trị (Dương Văn Ba, tlđd). Đây cũng có thể là thêm một bằng cớ chứng tỏ ông Dương Văn Minh có chịu ảnh hưởng ít nhiều của những quan điểm chính trị Phật giáo: thương yêu, hòa giải, luôn quý trọng sinh linh và cố tránh mọi sự giết chóc trong điều kiện có thể.

Tương tự ông Minh,Thủ tướng Vũ Văn Mẫu vốn cũng là một Phật tử mộ đạo.Từng là nghị sĩ Thượng viện (từ 1972), trong suốt nhiệm kỳ của mình, ông luôn hoạt động tích cực cho phong trào hòa bình và hòa giải dân tộc.

Phó Tổng thống Nguyễn Văn Huyền được nhiều người biết đến và quý trọng như một nghị sĩ Thượng viện ôn hòa của chế độ cũ. Ông là người Công giáo thuần thành, nổi tiếng thanh liêm, đạo đức, sống nghèo và khổ hạnh, cuối đời chỉ tập trung cho việc tu hành.

Cả ba vị đứng đầu Chính phủ Dương Văn Minh đều xuất phát từ lòng nhân đạo, nếu không toàn phần thì cũng một phần, đã kết hợp nhau trong sự đồng thuận chấp nhận đường lối hòa giải hòa hợp dân tộc và giải pháp đầu hàng trong buổi hoàng hôn của chế độ để tránh cho thành phố Sài Gòn khỏi đổ nát và nhân dân vô tội cả nước khỏi phải chết thảm thêm nữa vì việc đánh nhau giữa hai bên vào giờ chót. Nếu không có sự đồng thuận giữa những con người cùng lý tưởng, được un đúc thấm nhuần bởi tinh thần từ bi hỷ xả và vị tha của các bậc giáo chủ, thì thật khó đi đến một quyết định mau lẹ, kịp thời và sáng suốt như vậy. Vi thế cho nên bây giờ bình tĩnh nhìn lại, có người còn đánh giá cuộc đầu hàng lịch sử nêu trên chẳng những không chút nhục nhã mà còn đáng ca ngợi là một hành vi anh hùng, đặc biệt hợp với lối hành xử bi-trí dũng của nhà Phật.

Tuy nhiên, tính chính đáng và sáng suốt của quyết định đầu hàng nêu trên nhờ đức từ bi hỷ xả cũng như vì tinh thần hòa giải hòa hợp dân tộc chỉ thật sự chói lọi hơn nếu như những lời sau đây được thực hiện một cách trọn vẹn, điều mà cố Chủ tịch nướcTôn Đức Thắng từng khẳng định trong lễ mừng chiến thắng tại TP.HCM 39 năm về trước: “Nhất định 45 triệu đồng bào cả nước ta sẽ đoàn kết một lòng, thương yêu, đùm bọc nhau như con một nhà, chung lòng chung sức bảo vệ độc lập, tự do, hàn gắn vết thương chiến tranh xây dựng lại đất nước, xây dựng cuộc sống mới hòa bình và hạnh phúc".

Ngày nay, sau gần 40 năm kết thúc chiến tranh, thống nhất đất nước, để tỏ rõ lập trường quang minh chính đại nhằm gây lại khối đại đoàn kết dân tộc ở giai đoạn mới còn đầy khó khăn, trong quá khứ thực hiện chính sách hòa giải, nếu thực tế có những gì sai sót đáng kể thì nay nên mạnh dạn công khai nhìn nhận. Như thế sẽ có tác dụng loại trừ tất cả mọi định kiến và mặc cảm trong lòng dân tộc, làm cho mọi người đều được hả lòng hả dạ, từ đó chung tay xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Trần Văn Chánh

Văn hóa Phật giáo, Số đặc biệt 200, ngày 1-5-2014

 

Những bài viết khác trong mục: Ứng Dụng › Bài viết
Những bài viết khác trong mục: Ứng Dụng › Bài viết
Đang cập nhật dữ liệu...
 
Mọi ý kiến đóng góp hay gởi bài, vui lòng liên hệ : thaytamduc@gmail.com - ĐT: 0969238013