Content on this page requires a newer version of Adobe Flash Player.

Get Adobe Flash player

Lý thuyết › Giảng giải kinh sách
Chú Đại Bi - 18/07/2013
GS. Lê Tự Hỷ
GS. Lê Tự Hỷ, một lần nữa, đã có sự đóng góp to lớn trong việc làm sáng tỏ Phật Pháp khi với những nghiên cứu đối chiếu phức tạp của những bản tiếng Phạn đã giúp Phật tử Việt Nam ta từ nay có thể đọc đúng âm và hiểu nghĩa Chú Đại Bi! Xin tán thán công đức của GS thật nhiều. BBT

Về Bản Phạn Văn Và Ý Nhhĩa Của Chú Đại Bi

                                                                                      Lê Tự Hỷ

            Chú Đại Bi nguyên bằng tiếng Phạn, đã được phiên âm ra chữ Hán, Nhật, Hàn, Tây tạng….  Phật tử Việt Nam trì tụng Chú Đại Bi từ xưa đến nay gồm 84 câu với 415 chữ là người Việt chúng ta đọc theo âm Hán Việt của bản Chú Đại Bi chữ Hán rất gần y hệt như bản do ngài Tôn Pháp (Bhagavaddharma, Dà Phạm Đạt Ma) phiên âm từ chữ Phạn ra chữ Hán và bản của ngài Bất Không Kim Cương (Amoghavajra) bằng ký tự  Siddham. Bản này là bản được phổ biến rộng rãi nhất theo truyền thống Phật giáo Đại thừa ở Đông Á.
          Đọc theo âm Hán Việt ấy, Phật tử Việt Nam chúng ta sẽ không thể hiểu một chút gì về ý nghĩa của chú Đại Bi vì là đọc theo phiên âm của phiên âm nên lệch khá xa âm tiếng Phạn ban đầu.
         Đã từ rất lâu, bản Phạn văn nguyên thủy của Chú Đại Bi đã bị mất.Trong bài viết này, chúng tôi cố gắng tìm những bản Phạn văn được các nhà Phật học khôi phục lại của Chú Đại Bi, để đúc kết chọn ra một bản tiếng Phạn của Chú Đại Bi hợp cú pháp, đúng ngữ nghĩa (đối với chúng tôi). Chúng tôi  sẽ giải thích ý nghĩa của Chú Đại Bi qua từng câu của bản tiếng Phạn ấy. Và chúng tôi phiên bản tiếng Phạn ấy ra tiếng Việt để có một bàn chú Đại Bi bằng tiếng Việt mà khi người Việt đọc lên thì nghe rất gần giống với âm tiếng Phạn hơn là đọc theo âm Hán Việt của bản chữ Hán.

         Bài nầy gồm các phần như sau :

        Phần I. Nguồn Gốc và Diệu Dụng của Chú Đại Bi
        Phần II. Bản Chữ Phạn và Ý nghĩa của Chú Đại Bi- Bản phiên âm trực tiếp từ Phạn ra Việt
       Phần  III. Một số bản Chú Đại Bi và Ý nghĩa được nhiều người quan tâm
       Nhận xét kết thúc

       Chúng tôi hy vọng toàn bộ bài viết này là lý thú đối với những độc giả biết ít nhiều tiếng Phạn, còn với những vị chưa biết tiếng Phạn thì có thể chỉ đọc các phần : Phần I, và  A1, A 2, A 3, B2, và B3 trong  Phần II là đạt yêu cầu.
                             ----------------------------------------------------- 

       Phần I. Nguồn Gốc Và Diệu Dụng Của Chú Đại Bi:
       Theo kinh Tâm Đại Bi (
Mahākāruṇikacitta Sūtra),  Chú Đại Bi là thần chú do Bồ Tát Quán Thế Âm (Quán Tự Tại) nói ra trước một Hội chúng gồm các vị Phật, Các Bồ Tát, Các Thiên Thần và Các vua (1).
 
    Trong Kinh Tâm Đại Bi mà Sramana Bhagavaddharma ( Sa môn Tôn Pháp, Dà Phạm Đạt Ma) dịch ra chữ Hán với tên là “Thiên Thủ Thiên Nhãn Quán Thế Âm Bồ Tát Quảng Đại Viên Mãn Vô Ngại Đại Bi Tâm Đà La Ni Kinh”,  thì Bồ Tát Quán Thế Âm cho biết nguồn gốc  của Thần Chú này như sau: Vào vô lượng kiếp về trước, Thiên Quang Vương Tịnh Trụ Như Lai, vì tâm thương tưởng đến chúng sanh nên đã nói ra thần chú Đại Bi và khuyến khích Bồ Tát Quán Thế Âm nên thọ trì thần chú này để đem lại nhiều lợi ích, an vui  cho chúng sanh (2).
         Bồ Tát Quán Thế Âm lúc bấy giờ mới ở ngôi nhất  địa, mà sau khi nghe xong thần chú này liền chứng vượt băng lên bát địa. Vui mừng trước oai lực của thần chú, Ngài bèn phát đại nguyện:
        "Nếu trong đời vị lai, con có thể làm lợi ích an vui cho tất cả chúng sanh với thần chú này, thì xin khiến cho thân con liền sanh ra ngàn mắt ngàn tay".(3)
         Lập tức, Ngài được toại ý nguyện. Từ đó, hình ảnh của vị Bồ Tát Quán Thế Âm ngàn mắt, ngàn tay trở thành một biểu tượng cho khả năng siêu tuyệt của một vị Bồ Tát mang sứ mệnh vào đời cứu khổ ban vui cho tất cả chúng sanh.
        Ngàn mắt là biểu tượng cho khả năng thấy biết được tất mọi cảnh khổ của chúng sanh, đó là khả năng của Trí. Ngàn tay là biểu tượng cho khả năng giúp đỡ, cứu vớt được tất cả những chúng sinh cầu ngài cứu độ, đó là lòng Đại Bi. Không những nghìn tay và nghìn mắt mà Ngài Bồ Tát Quán Tự Tại có thể hóa hiện ra hình tượng nhiều đầu, tay, mắt, mà “nhiều”  theo văn phong Phật giáo là tới 84 nghìn đầu, tay, mắt.  Đầu là biểu tượng chung cho 6 căn, tay là biểu tượng của lòng Bi, mắt là biểu tượng của Trí.  Nhiều đầu, tay, mắt để tỏ ra khả năng cứu độ một cách đại tự tại  của ngài Bồ tát siêu tuyệt vì có đủ các thuộc tính : Từ là để cảm hóa; Uy là để chinh phục; Ðịnh là để yên tâm; Huệ là để biết chính xác. Như thế là ngài Bồ tát có đủ cả Bi, Trí, và diệu dụng của sáu căn để cứu hộ chúng sanh một đại tự tại, tiếp ứng một cách hữu hiệu giữa trần lao (4)
     Với nhân duyên đó, Bồ Tát Quán Thế Âm vì tâm đại bi đối với chúng sanh, nên đã bạch với đức Phật Thích Ca Mâu Ni rằng :
     
''Bạch đức Thế Tôn, tôi có chú Đại Bi tâm đà ra ni, nay xin nói ra, vì muốn cho chúng sanh được an vui, được trừ tất cả bịnh, được sống lâu, được giàu có, được diệt tất cả nghiệp ác tội nặng, được xa lìa chướng nạn, được thành tựu tất cả thiện căn, được tiêu tan tất cả sự sợ hãi, được mau đầy đủ tất cả những chỗ mong cầu. Cúi xin Thế Tôn từ bi doãn hứa “ (5).
       Đ
ức Phật đáp rằng đây là cơ duyên tốt nhất để Bồ Tát Quán Thế Âm nói ra Chú Đại Bi. Và bài thần chú được nói ra, ghi lai trong kinh Đại Bi Tâm (Mahākāruṇikacitta Sūtra).
     Cũng trong kinh Đại Bi Tâm, k
hi nghe đức Phật thuyết kinh, nói về diệu dụng của Chú Đại Bi,  ngài A Nan (Ānanda) mới hỏi đức Phật là nên gọi tên của Thần chú như thế nào ? (và thọ trì như thế nào ?).

      Đức Phật bảo : Thần chú này có những tên gọi như sau (6):

1.        Quảng Đại Viên Mãn Đà-Ra-Ni

2.        Vô Ngại Đại Bi Đà-Ra-Ni

3.       Cứu Khổ Đà-Ra-Ni

4.       Diên-Thọ Đà-Ra-Ni

5.       Diệt-Ác-Thú Đà-Ra-Ni

6.       Phá Ác-Nghiệp-Chướng Đà-Ra-Ni

                         7.        Mãn-Nguyện Đà-Ra-Ni

8.        Tuỳ-Tâm Tự-Tại Đà-Ra-Ni

                         9.        Tốc Siêu Thượng Địa Đà-Ra-Ni."   
 

       Các tên nầy chính là các diệu dụng của Chú Đại Bi mà chúng ta thấy ghi lên đâu bài Chú Đại Bi bản T.1113b do Đại Quảng Trí Bất Không (Amoghavajra) phiên dich hiện có trong Đại Chính Tân Tu Đại Tạng Kinh (7). Đà-Ra-Ni là phiên âm ra chữ Hán của từ Phạn dhāraṇī, nghĩa là thần chú. Chẳng hạn Quảng Đại Viên Mãn Đà Ra Ni là thần chú sẽ đáp ứng tròn đầy sự cầu mong cho mọi chúng sinh trì chú.; hoặc Diên Thọ Đà La Ni là thần chú giúp kéo dài tuổi thọ cho người trì chú; Diệt-Ác-Thú Đà-Ra-Ni là thần chú giúp người trì tụng chú diệt con đường đưa mình tới cái ác ..., ; Tốc Siêu Thượng Địa Đà Ra Ni là thần chú giúp các Bồ Tát “nhảy băng” các “địa” mà không cần phải lên theo đúng thứ tự các “địa”, chẳng hạn từ Bồ tát sơ địa (nhất địa) có thể nhảy băng lên Bồ Tát Lục Địa,..., Cữu Địa hay Thập Địa mà không cần phải qua thứ tự nhị địa, tam địa,v.v...(Như Bồ Tát Quán Thế Âm đã nhảy băng từ sơ địa lên bát địa)

     Vậy các tên trên đây cho biết Thần Chú Đại Bị là vô cùng diệu dụng.
Ngày nay, giống như thần chú gồm 6 âm tiết phổ biến rộng rãi ở Tây Tạng:

                       Oṃ Maṇi Padme Hūṃ
Thần Chú Đại Bi đồng nghĩa với Bố Tát Quán Thế Âm (Quán Tự Tại, Avalokiteśvara) ở Đông Á. Nó được dùng để bảo vệ và thanh lọc thân tâm.

   Phần II. Bản Chữ Phạn và Ý nghĩa của Chú Đại Bi- Bản phiên âm trực tiếp từ Phạn ra Việt.
   A. Quá trình tìm chọn bản Phạn văn:
        A 1 : Các bản Chú Đại Bi trong Hán tạng : Chú Đại Bi
(大悲咒,  Great Compassion Mantra), chữ Phạn là Nīlakaṇṭha Dhāraṇī  (नीलकण्ठ  धारणी = Thần chú của Người Có Cổ Xanh). Nīlakaṇṭha = Người Có Cổ Xanh, là một những thể hiện của Bồ Tát Quán Tự Tại (Avalokiteśvara). Một tên khác của bài chú là Mahā Karuṇā Dhāraṇī (महा करुणा  धारणी), (Mahā = To lớn, vĩ đại;  Karuṇā = Lòng Bi Thương; Dhāraṇī = Thần chú). (8)
     Chú Đại Bi là một phần trong kinh Tâm Đại Bi (mahākaruṇikacitta sūtra), cũng là Nīlakaṇṭha Lokeśvara
(नीलकण्ठ लोकेश्वर, Vị Chúa Tể Thế Giới Có Cổ Xanh) hay Nīlakaṇṭhaka. Kinh Nīlakaṇṭhaka  đã được dịch từ chữ Phạn ra chữ Hán bởi 3 đại sư trong thế kỷ thứ 7 và đầu thế kỷ thứ 8.  Đầu tiên, Trí Thông (Chih-t'ung, 智通,  Zhitōng) dịch hai lần trong khoảng năm 627- 649 sau dương lịch (được ghi trong Đại Chính Tân Tu với mã số T.1057a và T.1057b. Tiếp theo là  Śramaṇa Bhagavaddharma ( Sa môn Tôn Pháp, Dà Phạm Đạt Ma) dịch trong khoảng năm 650 – 660 sau dương lịch (T.1059 và T.1060). Một bằng chứng cụ thể của việc dịch của Tôn Pháp là mười hai quyển của bản kinh Nīlakaṇṭha Lokeśvara bằng chữ Hán được tìm thấy trong động đá Đôn Hoàng( 敦煌 ) dọc theo Con đường Tơ Lụa (Silk Road), ngày nay thuộc tỉnh Cam Túc (甘肅) ở Trung Quốc (9). Tư liệu này cho biết đây là bản dịch của Bhagavaddharma (Tôn Pháp) (10). Tiếp theo là Bodhiruci (Bồ Đề Lưu Chi ) dịch vào năm 709 sau dương lịch (T.1058).  
       Bản dịch T.1059 của Sa môn Tôn Pháp ra chữ Hán có tên : Thiên Thủ Thiên  Nhãn Quán Thế Âm Bồ Tát Quảng Đại Viên Mãn Vô Ngại Đại Bi Tâm Đà La Ni Kinh mà một trong các bản dịch ra tiếng Việt là của Hòa thường Thích Thiền Tâm (11), trong đó có chứa bản Chú Đại Bi gồm 84 câu với 415 chữ mà giới Phật tử Việt Nam ta quen trì tụng xưa nay.
   
  Chú Đại Bi (Nīlakaṇṭha dhāraṇī) còn được phiên âm ra  chữ Hán bởi 3 đại sư : Vajrabodhi (金剛智,  Kim Cương Trí) vào khoảng năm  719-741 sau dương lịch (T.1112  trong Đại Chính Tân Tu Đại Tạng Kinh), phiên âm hai lần bởi đệ tử của Vajrabodhi là Amoghavajra (不空金剛, Bất Không Kim Cương) vào khoảng năm 723-741 sau dương lịch, mã số T.1111 và T. 1113b; và trong thế kỷ 14 bởi Dhyānabhadra vào khoảng năm 1326-1363 sau dương lịch, mã số T. 1113a trong Đại Chính Tân Tu Đại Tang Kinh.
     Như vậy là trong 7 thế kỷ từ thế 7 đến thế kỷ 14, có 8 bản Chú Đại Bi trong Hán tạng , trong đó bản T1113b của Amoghavajra bằng chữ Phạn theo ký tự Siddham. Những bản này đều khác nhau, chỉ trừ  Bản T1113b của Amoghavajra thì rất gần giống với bản T1060 của Bhagavaddharma 
      A 2 : Những bản Phạn văn được khôi phục của Chú đại Bi.
     
Người ta không tìm thấy bản Phạn văn nguyên thủy của chú Đại Bi, và có thể xem như bản Phạn văn nguyên thủy này đã thất lạc mất từ thế kỷ thứ 7, tức là vào thời gian mà chú Đại Bi bắt đầu được phiên âm ra chữ Hán.
      Ngoài bản T1113b của Amoghavajra theo ký tự Siddham, đến thế kỷ 18, có hai công trình khôi phục tiếng Phạn quan trong: thứ nhất là Rol-pahi- Rdorje (12) và các cộng sự đã gôm những bản Phạn văn trong Vĩnh Lạc Bắc Tạng (Tam Tạng Kinh Điển trong thời Hoàng đế Vĩnh Lạc, nhà Minh) tạo ra một sưu tập gồm 22 tập với bốn thứ tiếng (Phạn, Mông Cổ, Tây Tạng, Hán) mà về sau có tên là Sanskrit Texts from the Imperial Palace at Peking (STP : Các Văn bản Chữ Phạn Trong Hoàng Cung Tại Bắc Kinh). Mục đích của Rol-pahi- Rdorje là khôi phục lại các văn bản chữ Phạn qua đối chiếu với các bản chữ Tây Tạng để có thể đạt được bản Phạn văn ở mức chính xác thích hợp . Công trình này của Rol-pahi Rdorje đã là một nổ lực đáng kể trong việc khôi lại các bản Phạn văn Phật giáo sớm nhất vào nửa đầu thế kỷ 18. Trong sưu tập nầy, bản STP. 5.1290-6.1304 là bản  Rol-pahi Rdorje đã khôi phục lại từ bản Chú Đại Bi T. 1057b phiên âm bởi Trí Thông (Chih-t'ung,
智通,  Zhitōng), khoảng năm 627-649 . Bản T.1057b  của Trí Thông qua khôi phục của Rol-pahi Rdorje (STP. 5.1290-6.1304) dài hơn bản T.1113b của Amoghavajra , và ít được phổ biến hơn, nhưng cũng đã cho chúng ta một bản Phạn văn tương đối hợp cú pháp.
      Thứ hai là, cũng trong thế kỷ 18, nhà sư Nhật Ji-un Sonja (13) lãnh đạo một công trình vĩ đại là biên soạn một bộ gồm 1000 tập nhằm tìm và khôi phục lại nguồn gốc Phạn văn của Kinh sách Phật giáo tại Nhật. Trong công trình này, Ju-un đã khôi phục lại bản Chú Đại Bi theo ký tự Siddham (Readings of  Ji-un Sonja, I.195-198).
      Những phiên bản Chú Đại Bi này đều có những khác biệt nhau khi khôi phục lại tiếng Phạn. Những khác biệt ấy có thể do nhiều nguyên nhân, mà một số có thể là:
         Các ngài phiên âm bài Chú Đại Bi theo trí nhớ và sự hiểu biết riêng của mỗi ngài chứ không phải các ngài đã căn cứ vào một bài chú chuẩn mẫu mực nguyên thủy nào, đặc biệt ảnh hưởng ngôn ngữ mẹ đẻ khác nhau của các ngài ở các vùng Bắc Ấn và vùng Trung Á.
        Chẳng hạn, từ Phạn Nīlakaṇṭha trong hầu khết các phiên bản thì riêng ngài Tôn Pháp (Bhagavaddharma) lại thay bởi Narakindi mà ngài phiên âm ra chữ Hán thành 
那 囉 謹 墀 ( Na Ra Cẩn Trì trong bản tiếng Việt). Narakindi  là một từ trong ngôn ngữ Uigur thuộc miền Trung Á, có nghĩa là người Hiền Ái. Về sau, ngài Bất Không Kim Cương  (Amoghavajra) cũng dùng lại Narakidhi trong bản T.1113b bằng ký tự Siddham.
       Sự khác biệt cũng có thể do chữ Phạn là đa âm trong khi chữ Hán là đơn âm cho nên khi phiên âm từ Phạn ra Hán thì tạo ra nhiều âm hơn, và có thể các âm thêm ra được chọn khác nhau giữa các nhà phiên dịch .
Mặt khác, nhiều chữ Hán thì đồng âm mà khác nghĩa khi viết khác nhau cho nên trong phiên âm thì chọn âm nhưng chữ viết nào là một vấn đề rất phức tạp.  Chẳng hạn với câu 7 âm tiếng Phạn: Namo ratna-trayāya thì phiên ra thành 10 âm Hán : NAM MÔ HẮC RA ĐÁT NA ĐÁ RA DẠ DA trong bản T1060 của Tôn Pháp (Bhagavaddharma). Còn trong bản T1111 của Bất Không Kim cương (Amoghavajra) là 9 âm: NẴNG MÔ RA ĐÁT NẴNG ĐÁT RA DẠ DA .
      Ngoài ra vào thời kỳ ấy chưa có một chuẩn theo hệ thống nghiêm ngặt phiên âm từ Phạn ra Hán cho các ngài nương theo. Chẳng hạn : āryᾹvalokiteśvarāya được phiên âm thành: A RỊ (LỊ) DA BÀ LÔ YẾT ĐẾ THƯỚC BÁT  RA DA trong T1060 của Bhagavaddharma, và thành A LY DA PHẠT LỘ CHỈ ĐẾ THẤP PHẠT RA DA trong T1111 của Amohgavajra;  svāhā thành TA BÀ HA trong  T1060, và thành BÀ PHẠ HẠ  trong T1111.
     Hơn nữa, bản Siddham của ngài Bất Không Kim Cương (Amoghavajra) qua sao đi chép lại và bị bòn mòn bởi thời gian nên có một số chữ đã sai lạc, thậm chí không nhận ra ngữ nghĩa được.
       Những lý do trên đây cho ta biết tại sao
có nhiều khác biệt giữa các phiên bản. Chẳng hạn : Bản Chú Đại Bi của Trí Thông (Chih T’ung) dài hơn bản của Bất Không Kim Cương (Amohgavajra). Sự chia thành câu cũng khác nhau giữa các phiên bản : bản của Tôn Pháp (Bhagavaddharma) được chia thành 82 câu trong khi bản T.1113b của Bất Không Kim Cương  gần giống y hệt của Tôn Pháp lại được chia thành 74 câu. Sự phân chia này nhiều khi không hợp lý khi khôi phục lại bản tiếng Phạn. Chẳng hạn “namaḥ ārya- avalokiteśvarāya  = Nama āryāvalokiteśvarāya” là một câu có nghĩa “Con cung kính cúi lạy đức Tôn Thánh Quán Tự Tại” lại được phiên âm ra chữ Hán thành 2 câu NAM MÔ  A RỊ DA (Nama āryā, câu 2)  BÀ LÔ YẾT ĐẾ THƯỚC BÁT RA DA (valokiteśvarāya, câu 3) trong bản T1060 của Tôn Pháp (Bhagavaddharma), nghĩa là tách câu Phạn văn thành hai tại âm “va”, mà “va” là âm ở trong từ danh từ avalokiteśvara là tên của Bồ Tát Quán Tự Tại. Như  vậy  tên của ngài Bồ Tát mà bị tách làm 2 phần, mỗi phần ở một câu thì rõ ràng là không hợp lý. Hơn nữa ārya là tính từ, bổ nghĩa cho danh từ avalokiteśvarāya và làm thành từ kép “ārya- avalokiteśvarāya = āryāvalokiteśvarāya”  thì hai từ này cần phải được ở chung trong một câu.
        Câu cuối trong bản của Tôn Pháp là: “Oṃ siddhyantu mantra-padāni svāhā”, trong khi bản T.1113b của Bất Không Kim Cương không có câu này mà sau câu cuối 74 lại có “bodhi svāhā”. Bản của Ji-un Sonja cũng không có câu này mà lại có samāpta.
      Những lý do trên cũng cho biết việc khôi phục lại bản Phạn văn từ  các bản Hán văn là vô cùng khó  khăn và nhiều khi không thể tạo ra câu Phạn văn có ý nghĩa được do nạn tam sao thất bản. Cụ thể là trong bản T.1060 của Bhagavaddharma, câu 37 viết:
                               
室那  室那        阿 羅參  佛羅 舍 利
                                   Thất Na Thất Na  A     Ra Sâm     Phật Ra Xá Rị
Câu chữ Hán này cũng thấy trong phiên âm ra chữ Hán của bản Siddham T.1113b của Amoghavajra.  Nhưng  không ai có thể khôi phục câu chữ Hán này lại tiếng Phạn để hiểu được có nghĩa là gì.
Ngay bản T.1113b của  Amoghavajra bằng Siddham, nhưng có thể do tam sao thất bản nên các ký tự Siddham được chép lại là:
                                   
       

và chuyển qua tiếng Phạn thành :    cinda  cinda   arṣaṃ pracali.
Có bản ghi thành: chinda chinda  ars pracali; cũng có bản ghi thành: śina  śina  2arsa pracali.                
       Nhưng  bản thân các câu tiếng Phạn ấy là không thể hiểu được theo ngữ nghĩa gì cả.
        Điều này cũng chứng tỏ các bản dùng để phiên âm là các bản chữ Phạn đã bị sai lạc, hoặc bị bào mòn qua thời gian, khiến cho người phiên âm cũng đã không nhận ra đúng đích thực các chữ và ý nghĩa của chúng.
    Tuy nhiên, trong bản T.1111 phiên âm từ Phạn ra chữ Hán thì Amoghavajra có kèm theo ít giải thích khi cần, nhờ đó Giáo sư C.N. Tay nhận xét rằng ứng với “cinda” trong T.1113b, thì hai từ Hán đôi khi cũng đọc là “śi-na” và ứng với chỗ này Amoghavajra có giải thích trong T.1111 rằng nó là con rắn màu đen được dùng như một sợi dây (14). Chúng tôi đã nhờ Giáo sư Tôn Thất Quỵ (Huế) kiểm tra lại điều nhận xét này trong bản Hán văn T1111 của Amoghavajra, thấy sau câu phiên âm: “ngật rị sử noa tát bà ngật rị đa diễn nữ pha vĩ đa” thì Amoghavajra ghi chú:”hắc xà tác thằng tuyến = con rắn màu đen dùng làm dây), và sau câu :” ngật rị sử noa tát phạ ngật rị đa diễn nu phạ vĩ đa dạ bà phạ hạ” có ghi chú:”hắc xà tác thần tuyến phước đức = con rắn màu đen làm sợi dây thần tuyến phước đức”.  Nhận xét này của C.N. Tay đã giúp cho Lokesh Chandra có ý tưởng rằng: Trong bản T.1113b của Amoghavajra :   bị nhậm nhầm thành     và   = sa   rpa  bị nhận nhầm thành  2arṣa

      Từ đó Lokesh Chandra đã khôi phục  lại câu:
                          “cinda   2arṣaṃ
 pracali”
           thành      “ kṛṣṇa   sarpa  upavīta”  = “kṛṣṇa   sarpopavīta”
 (kṛṣṇa = đen; sarpa = con rắn; upavīta = sợi dây thiêng). Điều này có nghĩa là Nīlakaṇṭha mang con rắn màu đen như là một sợi dây thiêng nói lên uy lực trừ khử  được các thứ độc của Ngài (15).
      Bản Chú Đại Bi gồm 84 câu với 415 chữ mà giới Phật tử Việt Nam ta quen trì tụng xưa nay và các bản tương ứng mà Phật các nước Trung Quốc, Hàn, Nhật,..quen trì tụng là bản Chú Đại Bi phổ biến rộng rãi nhất tại Đông Á, chính là bản
gần giống nhất với bàn chữ Hán của Tôn Pháp và bản phiên âm ra chữ Hán của bản Siddham T.1113b của Bất Không Kim Cương. Nhưng bản ký tự Siddhāṃ T.1113b này có lẽ do tam sao thất bản đã bị sai lạc như trên đã nói ,và bản phiên âm chữ Hán từ đó lại thiếu không những một  số từ của bản Phạn mà còn thiếu cấu trúc gồm 5 phần của Chú Đại Bi khiến cho việc khôi phục ý nghĩa bài chú trở nên vô cùng khó khăn (16).
       Trong thời hiện đại cũng có nhiều học giả lưu tâm khôi phục lại bản Phạn văn của Chú Đại Bi. Nhưng theo chúng tôi, trong mấy chục năm nay, người bỏ nhiều công sức nhất để khôi phục lại bản Phạn văn của Chú Đại Bi và thành công nhất là Lokesh Chandra (17). Lokesh Chandra  đã  điều chỉnh bản T1113b của Amohgavjra qua  sự đối chiếu với bản của Trí Thông được khôi phục bởi Rol-pahi Rdorje (STP. 5.1290-6.1304) để có bản Phạn văn của Chú Đại Bi mà để cho tiện chúng tôi gọi là bản Lokesh Chandra 1977 (18). Bản này đã được dùng làm cơ sở đưa lên Wikipedia (19). Nhưng Lokesh Chandra làm công vệc điều chỉnh này trước năm 1977,  khi đó ông chỉ dùng tư liệu trong Hán tạng. Về sau, vào năm 1981, ông tìm được  bản của Hàn quốc, và đặc biệt là bản của Ji-un Sonja ở Nhật mà ông đánh giá rất cao vì chữ Phạn trong bản của Ji-un Sonja là tương đối hoàn chỉnh nhất. Từ đó ông dùng các bản của Hán tạng, bản của Hàn quốc và bản của Ji-un Sonja để điều chỉnh lại và cho ra phiên bản Chữ Phạn của Chú Đại Bi, với tên Constituted Text Of The Vulgate Version trong sách The Thousand Armed Avalokiteśvara xuất bản năm 1988, để cho tiện, chúng tôi gọi bản này là bản Lokesh Chandra 1988.
    A 3 : Về ý nghĩa của chú Đại Bi: nếu người Việt chúng ta đọc theo âm Hán Việt gồm 84 câu như truyền thống bấy lâu nay thì tuyệt nhiên sẽ không hiểu ý nghĩa gì cả vì đó là phiên âm của phiên âm, mà ngay bản phiên âm của Tôn Pháp và bản T.1113b cũng đã không chính xác như đã nói trên và do đó có những chỗ không thể hiểu ý nghĩa được. Hơn nữa, xưa nay đã có quan niệm rằng là thần chú mật ngôn của chư Phật, chư Bồ Tát, chỉ Phật, Bồ tát mới hiểu chứ người trần, người Phật  tử bình thường không thể hiểu được, cho nên chỉ việc trì tụng  y nguyên như  âm tiếng Phạn mà không cần thắc mắc, tìm hiểu ý nghĩa gì cả. Và do đó, trong các vị đại sư cũng rất hiếm có vị nào nào giải thích ý nghĩa của Chú Đại Bi. Trong các bản Chú Đại Bi trong Hán tạng, chỉ có bản T.1113b của Amoghavajra bằng ký tự Siddham thì có thấy ghi thêm bằng chữ Hán về các phương tiện cứu độ và cách thức trì tụng, và bản T1111 của ngài bằng chữ Hán thì có chen vào một số giải thích. Căn cứ vào các phần chữ  ghi chú bằng Hán đó, một số vị nói ra ý nghĩa của Chú Đại Bi thì thật ra không phải là ý nghĩa của từng câu của bài chú. Hòa thương Tuyên Hóa đã giảng giải chú Đại Bi bằng tiếng Hoa năm 1969 tại San Francisco (Bang California, Mỹ), và Tỳ kheo Thích Minh Định dịch ra tiếng Việt, mà nội dung chủ yếu đã được nhà xuất bản Tôn Giáo in năm 20006 thành sách có tên: Đại Bi Chú Giảng Giải. Nhưng việc giảng giải của ngài Tuyên Hóa cũng không dễ giúp bạn đọc hiểu rõ từng câu chữ của Chú Đại Bi vì ngài giảng giải Chú Đại Bi theo 42 Thủ Ấn mà một Phật tử bình thường không thể nào am tường được, và đặc biệt là ngài không giải thích tại sao câu này ứng với Ấn này, câu kia ứng với Ấn kia. Ngài cũng không căn cứ vào nguyên văn tiếng Phạn để giảng mà ngài căn cứ trên bản phiên âm ra chữ Hán để giảng. Pháp sư Thánh Ấn cũng đã giải thích từng cụm từ Hán của chú Đại Bi mà Sư cô Thích Nữ Huệ Trung trong luận văn Tốt Nghiệp, KHÁI QUÁT TÌM HIỂU MẬT TÔNG QUA CHÚ ĐẠI BI (20) đã dùng để dịch ra tiếng Việt. Nhưng các ngài không dùng chính tiếng Phạn mà đã dùng phiên âm ra chữ Hán của Bhagavaddharma và các ghi chú bằng chữ Hán trong các bản T.1111 và bản T.1113b của Amoghavajra (Bất Không Kim Cương) để giảng nghĩa, cho nên có thể không chính xác về ngữ nghĩa của tiếng Phạn.
       Chẳng hạn : câu đầu tiên của Chú Đại Bi là : namo ratna-trayāya = namaḥ ratna-trayāya, được phiên âm thành 10 âm trong T1060 của Bhagavaddharma:
     NAM MÔ HẮC (namaḥ) RA ĐÁT NA (ratna) ĐÁ RA DẠ DA (trayāya).

     Căn cứ vào câu phiên âm này, ngài Tuyên Hóa giải thích (trang 67, sách Đại Bi Chú Giảng Giải, nhà xuất bản Tôn giáo, 2006) như sau:
    - HẮC RA ĐÁT NA là “bảo” . Thật ra là không đúng, vì RA ĐÁT NA (ratna) mới là bảo; chứ chữ HẮC (ḥ) phải đi liền với NAM MÔ : NAM MÔ HẮC (namaḥ)  có nghĩa là “sự cúi lạy, sự khấu đầu qui mạng lễ”
    - DA có nghĩa là “lễ” cũng không đúng; thật ra chữ DA (ya) phải đi liền với ĐÁ RA DẠ thành ĐÁ RA DẠ DA (trayāya ) mới có ý nghĩa bởi vì nguyên chữ Phạn “ ratna-traya (n)” = tam bảo), mà vì đi theo danh từ “namaḥ “ nên phải ở cách “túc từ gián tiếp” (Dative số ít : a --- > āya) và do đó: ratna-traya  --- > ratna- trayāya  (“tam bảo” ở cách Dative số ít). Còn  cái ý “lễ” nằm trong chữ : “namaḥ” (NAM MÔ HẮC)  = sự cung kính cúi lạy, sự khấu đầu qui mạng lễ.
    Tương tự  “namaḥ ārya- avalokiteśvarāya” = “nama āryāvalokiteśvarāya” được phiên âm thành “NAM MÔ A RỊ DA (nama āryā, câu 2) BÀ LÔ YẾT ĐẾ THƯỚC BÁT RA DA (valokiteśvarāya, câu 3). Rồi các ngài giảng: BÀ LÔ YẾT ĐẾ (valalokite) có nghĩa là “quán”. Nhưng thật ra A BÀ LÔ YẾT ĐẾ (avalokite) mới là “quán”.
    Hiện nay đã có một số vị thầy nước ta y cứ vào lời giải thích chữ Phạn qua phiên âm chữ Hán của Hòa Thượng Tuyên Hóa (không đúng như chúng tôi nêu ra trên đây) để giảng giải tại nhiều pháp hội, trong những lớp tu học Phật pháp từ Sơ Cấp đến Cao Cấp. Thậm chí có ngài đã không những y cứ mà còn phóng đại lời ngài Tuyên Hóa mà giảng rằng DA trong ĐÁ RA DẠ DA (trayāya) là một “động từ” có nghĩa là “lễ bái”! , thì quả là quá sai. Có lẽ đã đến lúc Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam cần quan tâm chỉnh lý những cách giảng không đúng như thế, nếu không sẽ tạo thành “nếp sai” lan rộng khó lòng chỉnh lý về sau!
    Đó chỉ là vài nhận xét về ngữ nghĩa trên hình thức, còn về nội dụng thì tất nhiên là bài giảng của ngài Tuyên Hóa rất có giá trị về ý nghĩa thâm sâu và diệu dụng của Chú Đại Bi qua việc trì niệm và thực hành các thủ ấn mà hàng Phật tử bình thường như bản thân chúng tôi không thể lạm bàn được. Tuy nhiên, cũng trong sách này, nơi trang 113, ngài Tuyên Hóa cũng nói rằng: “Quí vị Phật tử đang tu học Phật pháp nên biết rằng trong 300 năm trở lại đây, không có ai hành trì được bốn mươi hai thủ nhãn ấn pháp và cũng chẳng có ai thông hiểu được các ấn pháp này”.

       Cho nên, chúng tôi đã nói trên rằng việc giảng giải Chú Đại Bi của Hòa Thượng Tuyên Hóa rất khó giúp giới Phật tử bình thường chúng ta hiểu ý nghĩa từng câu văn của Chú Đại Bi.

      Ngoài ra, nhà Phật học nổi tiếng người Nhật D.T. Suzuki (1870-1966) đã dịch chú Đại Bi ra tiếng Anh năm 1950 (21). Suzuki đã dùng bản tiếng Phạn theo ký tự Siddham T.1113b của Amoghavajra, có kèm theo bản phiên âm và ghi chú bằng chữ Hán để dịch. Tiếc rằng bản Phạn này tự thân đã chứa nhiều chỗ không thể nào nhận ra đúng chữ nghĩa được, cho nên theo Lokesh Chandra thì bản dịch của Suzuki có nhiều chỗ sai (Xem trong phần III dưới đây). Cho nên những vị nào y cứ vào bản dịch của ngài D.T. Suzuki để giải thích ý nghĩa của Chú Đại Bi cũng không đúng.
    Vì vậy, chúng tôi cho rằng cần phải tìm ra bản Phạn văn nghiêm chỉnh về mặt ngữ nghĩa của Chú Đại Bi để qua đó mới có thể  hiểu ý nghĩa văn bản (ý nghĩa theo từng câu, chứ không hẵn là ý nghĩa thâm sâu ẩn tàng bên trong câu văn ấy) của Chú Đại Bi. Ở đây, chúng tôi giải thích ý nghĩa của chú Đại Bi qua từng câu chữ bản Phạn văn do chúng tôi chọn lọc ra mà chúng tôi cho là tốt nhất theo khả năng hiểu biết của chúng tôi. 
    A 4: Bản Phạn văn được tuyển chọn : Chúng tôi so sánh các bản Phạn văn  Lokesh Chandra 1977,  bản Wikipedia, bản Lokesh Chandra 1988, Bản Ji-un Sonja để đúc kết chọn đề nghị ra bản Phạn văn bên dưới đây,và sẽ ghi rõ chỗ khác biệt với các bản ấy khi có

       Để cho quí bạn đọc dễ theo dõi, chúng tôi đối chiếu từng cụm câu trong bản tiếng Việt mà các Phật từ Việt Nam tụng niệm với câu tiếng Phạn trong bản mà chúng tôi chọn ra và giải thích ý nghĩa. Chú Đại Bi sẽ gồm 5 phần như sau:

I. Lời chào mở đầu:             

1. NAM MÔ HẮC RA ĐÁT NA ĐÁ RA DẠ DA. Tiếng Phạn là:      

1. Namo ratna-trayāya  = Namaḥ ratna-trayāya  (aḥ + r = o + r)
- Namaḥ là Nominative số ít của namas (n) = sự cúi lạy, sự cúi người tỏ lòng tôn kính, sự khấu đầu qui mạng lễ
- ratna-trayāya là Dative (vì đi theo namas) số ít của ratna-traya (n); ratna (n) = thứ quí giá, thứ tốt nhất; traya (n) = bộ ba --- > ratna-traya (n) =  Tam Bảo (Phật, Pháp, Tăng). --- > 1. Namaḥ ratna-trayāya = Sự cúi lạy Tam bảo, cũng có nghĩa: Con  cung kính cúi lạy Tam Bảo, hay Con khấu đầu kính ngưỡng Tam Bảo, hay Con khấu đầu qui mạng lễ Tam Bảo.
Lưu ý: Nhiều vị dịch câu này là “Con qui y Tam Bảo” tuy không sai lắm, nhưng không hoàn toàn chính xác theo ngữ nghĩa tiếng Phạn bởi namas không dùng cho  qui y. Từ śaraṇa (n) = “sự nương tựa vào” mới dùng cho qui như trong các câu sau đây:
             Buddhaṃ  śaraṇaṃ gacchāmi  =  Con qui y Phật
             Dharmaṃ śaraṇaṃ gacchāmi   =  Con qui y Pháp
             Saṃghaṃ śaraṇaṃ gacchāmi   =  Con qui y Tăng
             Triratnaṃ śaraṇaṃ gacchāmi   =  Con qui y Tam Bảo

2. NAM MÔ A RỊ DA   3. BÀ LÔ YẾT ĐẾ THƯỚC BÁT RA DA   4. BỒ ĐỀ
TÁT ĐỎA BÀ DA  5. MA HA TÁT ĐỎA BÀ DA  6. MA HA CA LÔ NI CA DA

2. Nama āryāvalokiteśvarāya bodhisattvāya mahā-sattvāya mahā-kāruṇikāya   = Namaḥ ārya-avalokiteśvarāya bodhisattvāya mahā-sattvāya mahā-kāruṇikāya  
-
ārya-avalokiteśvarāya là Dative số ít của ārya-avalokiteśvara (m)
- ārya (a) = tôn thánh.
- avalokiteśvara = avalokita + īśvara (a+i = e; avalokita là quá khứ phân từ của ava +lok (X avalokayati) = nhìn từ trên xuống, quan sát toàn thể ; īśvara (m) = vị chúa tể (theo nghĩa có quyền năng trên thế giới và có khả năng cứu giúp những khốn khổ) --- > īśvara (m) = Vị có khả năng cứu giúp một cách tự tại  --- > avalokiteśvara (m) = Vị chúa tể quan soát toàn thể (toàn thế giới) để cứu giúp một cách tự tại --- > Hán dich: avalokiteśvara = Quán Tự Tại (Bồ Tát) --- >
āryāvalokiteśvarāya = đối với đức Tôn Thánh Quán Tự Tại.
    Lưu ý 1: Từ ārya-avalokiteśvarāya =
āryāvalokiteśvarāya  được phiên âm ra chữ Hán thành  A RỊ DA (āryā) BÀ LÔ YẾT ĐẾ (valokite) THƯỚC BÁT RA DA (śvarāya). Xin nhấn mạnh lại điều đã nói ở phần trên : Căn cứ vào câu phiên âm này, hầu như mọi tác giả sách chữ Hán như Hòa thượng Tuyên Hóa trong Đại Bi Chú Giảng Giải (22), Pháp sư Pháp Sư Thánh Ấn và do đó người Việt sử dụng theo như Thích Nữ Huệ Trung trong luận văn Tốt Nghiệp, KHÁI QUÁT TÌM HIỂU MẬT TÔNG QUA CHÚ ĐẠI BI (23) đều giải thích: BÀ LÔ YẾT ĐẾ (valokite) là “quán”. Nhưng điều này không đúng theo tiếng Phạn, vì āryāvalokiteśvarāya = ārya+avalokita+ īśvarāya trong đó avalokita là “quán” cho nên qua chữ Hán phải là A BÀ LÔ YẾT ĐẾ mới là “quán”. Nhận xét nhỏ này nói lên rằng, nếu cứ căn cứ vào bản phiên âm ra chữ Hán để tìm hiểu câu tiếng Phạn thì rất nhiều chỗ không chính xác.
    Lưu ý 2: một số tư liệu trước đây cũng viết avalokiteśvara là avalokitasvara ; nghĩa là thay eś bởi as. Sự thay này làm thay đổi nghĩa:  avalokitesvara = avalokita+ svara (svara (m) = âm thanh) --- > : avalokitasvara = người nghe  âm thanh nghe do quan sát toàn thể --- > Hán dịch: avalokitasvara =  Quán Thế Âm (Bồ Tát). Vì vậy, Quán Tự Tại và Quán Thế Âm được hiểu là cùng một ngài Bồ Tát. Trong tiếng Phạn có 3 danh hiệu:
Avalokita , Avalokitasvara,  và Avalokiteśvara cùng chỉ một vị Đại Bồ Tát, nhưng tiến trình biến đổi từ danh hiện này qua danh hiệu kia rất là thú vị và khá phức tạp trong văn hóa thờ phụng xưa của dân Ấn Độ.
- bodhisattvāya là Dative số ít của bodhisattva (m) = Bồ tát
- mahā-sattvāya là Dative số ít của mahā-sattva (m,n) = Đại chúng sinh, Đại sĩ
- mahā-kāruṇikāya là Dative số ít của mahā-kāruṇika (n); mahā = To lớn, Vĩ đại; kāruṇika (n) = người có lòng thương xót (bi tâm) -- > mahā-kāruṇika (n) = Người có Đại Bi Tâm; --- >
2.
Nama āryāvalokite-śvarāya bodhisattvāya mahā-sattvāya mahā-kāruṇikāya  = Namaḥ ārya-avalokiteśvarāya bodhisattvāya mahā-sattvāya mahā-kāruṇikāya = Con cung kính cúi lạy đức Tôn thánh Quán Tự Tại, đức Bồ Tát, đức Đại Sĩ, đức Đại Bi Tâm (Con khấu đầu qui mạng lễ đức Tôn thánh Quán Tự Tại, đức Bồ Tát, đức Đại Sĩ, đức Đại Bi Tâm)

II.  Danh hiệu của đức Quán Tự Tại

7.
ÁN  8. TÁT BÀN RA PHẠT DUỆ  9. SỐ ĐÁT NA ĐÁT TỎA  10. NAM MÔ TẤT KIẾT LẬT ĐỎA Y MÔNG A RỊ DA   11. BÀ LÔ KIẾT ĐẾ THẤT PHẬT RA LĂNG ĐÀ BÀ  12. NAM MÔ NA RA CẨN TRÌ

 

3. Oṃ sarva-bhayeṣu trāṇa-karāya tasya  namaskṛtvā  imam  Āryāvalokiteśvara-stavanaṃ Nīlakaṇṭha-nāma
- Om : Đây là một từ dùng để tỏ lòng xác nhận long trọng về sự tôn kính, đôi khi được hiểu đơn giản như “ thưa phải, rất đúng, chính thế”. Nó là một tán thán từ linh thiêng đối với mọi tín đồ trong đạo Hindu. Nó được đặt ở đầu của hầu hết tác phẩm trong Hindu, được nói ra ở đầu và cuối của mỗi buổi giảng kinh Vệ đà hay trước bất kỳ sự cầu nguyện nào. Nó cũng được xem như một phần trong cách chào chúc thắng lợi (như Hail! trong tiếng Anh).
    Từ om thấy xuất hiện đầu tiên trong
उपनिषद् (upaniṣad, phần trình bày mật nghĩa của kinh Vệ Đà) như một âm thần bí và linh thiêng, và được đưa ra như đối tượng cho việc thiền quán thâm sâu. Trong thiền quán, hiệu quả của trạng thái tinh thần cao nhất được gán không những cho toàn bộ từ om mà còn cho cả 3 âm a, u, m tạo ra từ om = a+u+m ((a+u = o). Về sau, om là tên linh thiêng cho Bộ Ba trong Hindu (Hindu triad), và tượng trưng cho sự kết hợp của 3 vị thần, đó là: विष्णु (Viṣṇu tượng trưng bởi a), शिव (Śiva bởi u), ब्रह्मा (Brahmā bởi m). Om cũng là biểu tượng của sự hòa nhập của Tiểu ngã của cá nhân vào Đại ngã của vũ trụ

    Trong Phật giáo t Om được dùng ở đầu của một số thần chú, như câu thần chú 6 âm (विद्या षडक्षरी = vidyā ṣaḍakṣarī) là ओम् मणि पद्मे हूं (Oṃ Maṇi Padme Hūṃ). Om có thể được hiểu theo nhiều nghĩa, trong đó có các nghĩa như sau : âm thần bí, âm linh thiêng (praṇava (m)), sự khởi đầu ( ārambha (m)), sự đồng thuận (svīkāra (m)), sự bằng lòng (anumata (n)), hạnh phúc, sự thịnh vượng (maṅgala (n),huy hoàng, rực rỡ, đẹp đẽ (śubha (a,n). Nhiều đại sư giải thích “om” như là “mẹ” của mọi thần chú. Khi người Phật tử phát âm “om” thì nghĩ rằng lời Phật dạy sẽ nhiếp thâu vào tâm của mình.
-
sarva-bhayeṣu là Locative số nhiều của sarva-bhaya ; sarva = tất cả; bhaya (n) = sự sợ hãi, sự nguy hiểm --- > sarva-bhayeṣu = khỏi tất cả những hiểm nguy
- trāṇa-karāya là Dative số ít của trāṇa-kara;  trāṇa (n) = sự bảo vệ; kara (m) = người tạo ra, sự tạo ra --- > trāṇa-karāya = đối với sự tạo ra việc bảo vệ
- tasya = của người ấy (là Genitive số ít giống đực (theo giống của avalokiteśvara) của tad)
- namaskṛtvā là Absolutive của động từ namas-kṛ (VIII namaskaroti) = nói nên lòng tôn kính, thực hiện việc cúi lạy tỏ lòng tôn kinh; namas (n) = sự cúi lạy, sự cúi người tỏ lòng tôn kính; kṛ (VIII karoti) = thực hiện  --- > namas-kṛtvā = đã nói lên lòng tôn kính, đã cúi lạy tỏ lòng tôn kính, đã khấu đầu  qui mạng lễ
- imam là Accusative  số ít giống đực của ayam (pron, m) = này (ứng với Ārya-avalokiteśvaram
- Āryāvalokiteśvara-stavanaṃ là Accusative số ít của Āryāvalokiteśvara-stavana là một từ kép bahuvrīhi; stavana (n) = sự tán thán, sự tán tụng, sự khen ngợi --- > Āryāvalokiteśvara-stavana = người được sự tán tụng bởi Tôn Thánh Quán Tự Tại
- Nīlakaṇṭha-nāma là Accusative số ít của Nīlakaṇṭha-nāma, là một từ kép bahuvrīhi; Nīlakaṇṭha = Nīla-kaṇṭha ((nīla (a) = xanh; kaṇṭhā (f) = cái cổ, chuỗi hạt đeo cổ, cái kiền đeo cổ, cái vòng đeo cổ) --- > nīla-kaṇṭha (m) = người có cổ màu xanh, người đeo chuỗi tràng hạt cổ màu xanh (từ kép bahurīdhi). Hán dịch là Thanh Cảnh (Cổ Xanh) . Nīlakaṇṭha là một danh hiệu của Bồ Tát Quán Tự Tại (Avalokatiteśvara)
- nāma là Accusative số ít của nāman (n) = tên, danh hiệu --- > Nīlakaṇṭha-nāma = vị mà danh hiệu là Nīlakaṇṭha --- >
3. Oṃ sarva-bhayeṣu trāṇa-karāya tasya  namaskṛtvā  imam  Āryāvalokiteśvara-stavanaṃ Nīlakaṇṭha-nāma = Om, Con đã cúi đầu qui mạng lễ đức Ngài bảo vệ (chúng sinh) khỏi tất cả mọi khổ nạn, mà danh hiệu Ngài là Ngài Cổ Xanh (Ngài Đeo Chuỗi Tràng Hạt Cổ Màu Xanh) được tán tụng bởi đức Tôn thánh Quán Tự Tại.
   Chú ý 1: Như trên đã nói, ngài Tôn Pháp (Bhagavaddharma) đã thay từ Nīlakaṇṭha bởi từ Narakindi trong bản phiên âm T.1060 và về sau ngài Amoghavajra (
大廣智不空 : Đại Quảng Trí Bất Không, Bất Không Kim Cương) cũng thay như thế trong bản T.1113b, cho nên câu 12 trong bản tiếng Việt là “NA RA CẨN TRÌ” chính  là phiên âm của từ NARAKINDI trong bản của ngài Tôn Pháp (Bhagavaddharma).
     Chú ý 2: Theo Lokesh Chandra, câu này là câu khó khôi phục vì “
Āryāvalokiteśvara-stavanaṃ Nīlakaṇṭha-nāma” đều bị ghi nhầm thành “Āryāvalokiteśvara tava namo Nīlakaṇṭha” trong nhiều bản như Lokesh Chandra 1977, trong Wikipedia; và thành “Āryāvalokiteśvaraṃ dhava namo narakidhi” trong T1113b của Amoghavajra, cho nên không thấy cái nghĩa “ được tán tụng bởi đức Tôn thánh Quán Tự Tại”. Tuy niên, trong bản T1061 của Vajrabodhi thì có “Āryāvalokiteśvara-bhāṣitaṃ” = “được nói lên bởi đức Tôn thánh Quán Tự Tại” và đó là chi tiết có giá trị rất lớn của bản T1061 (24)
 
III. Sự tụng lên câu kệ về Công đức của Thần chú về Tâm (Tâm chú):

13. HÊ RỊ MA HA BÀN ĐA SA MẾ  14. TÁT BÀ A THA ĐẬU DU BẰNG
4. hṛdayaṃ vartayisyāmi sarvārtha-sādhanaṃ śubham
- Hṛdayaṃ là Accusative số ít của hṛdaya (n) = tâm, tâm trí. Ở đây là Thần chú về tâm, hay Tâm chú (hṛdaya-dhāraṇī )
- vartayisyāmi là ngôi nhất số ít thì Tương lai của Causative “vartayati  = nói lên, trình bày” của động từ vṛt (I vartate). Ở đây vartayisyāmi là con sẽ tụng lên
- sarvārtha-sādhanam là Accusative số ít giống trung (giống của hṛdaya (n)) của sarvārtha-sādhana (a); sarvārtha = sarva-artha = tất cả mục đích (sarva (pron) = tất cả; artha (m) = mục đích, mục tiêu); sādhana (a) = có hiệu quả, đem lại kết qua
--- > sarvārtha-sādhana (a) = có hiệu quả đối với tất cả mục đích
- śubham là Accusative số ít giống trung (giống của hṛdaya (n)) của śubha (a) = chân chính, thanh khiết, lương thiện --- > 4. Hṛdayaṃ vartayisyāmi sarvārtha-sādhanaṃ śubham = Con sẽ tụng  lên bài Tâm Chú, có hiệu quả đối với mọi mục đích, và là chân chính
15. A THỆ DỰNG  16. TÁT BÀ TÁT ĐA (NA MA BÀ TÁT ĐA) NA MA BÀ DÀ  17. MA PHẠT ĐẠT ĐẬU
5. ajeyam sarva-bhūtānām bhava-mārga-viśodhakam
- ajeyam là Accusative số ít giống trung (giống của hṛdaya (n)) của ajeya (a) = không thể bị đánh bại, vô địch
- sarva-bhūtānām là Genitive số nhiều của sarva-bhūta (n) ; bhūta (n) = một thực thể sống (người, vật, thần, cỏ cây) , một chúng sinh --- > sarva-bhūta (n) = tất cả chúng sinh
- bhava-mārga-viśodhakam là Accusative số ít giống trung của bhava-mārga-viśodhaka (a); bhava (m) = sự tồn tại; sự sinh tồn; mārga (m) = con đường; śodhaka (a) = có tính thanh lọc, làm tinh khiết; vi (prefix) ở đây có ý làm tăng cường ý nghĩa của từ --- > viśodhaka (a) = có tính thanh lọc mạnh mẽ --- >  bhava- mārga-viśodhaka (a) = làm thanh khiết mạnh mẽ con đường sinh tồn --- > 5. ajeyam sarva-bhūtānām bhava-mārga-viśodhakam  = vô địch đối với mọi chúng sinh và làm thanh khiết mạnh mẽ con đường sinh tồn. --- >
4. và 5. Hṛdayaṃ vartayisyāmi sarvārtha-sādhanaṃ śubham
 ajeyam sarva-bhūtānām bhava-mārga-viśodhakam  = Con sẽ tụng  lên bài Tâm Chú, có hiệu quả đối với mọi mục đích, và là chân chính và vô địch đối với mọi chúng sinh và làm thanh khiết mạnh mẽ con đường sinh tồn

IV. Dhāranī (Các câu chú):

18. ĐÁT ĐIỆT THA – ÁN  19. A BÀ LÔ HÊ  20. LÔ CA ĐẾ  21. CA RA ĐẾ
6. Tadyathā: Om Ālokapate lokātikrānta
- Tadyathā = tad-yathā = Là như sau
- Ālokapate là Vocative số ít của  Āloka-pati; āloka (m) = ánh sáng, ánh huy hoàng, ánh rực rỡ; pati (m) = chúa tể, người cầm quyền tối cao 
 --- > āloka-pati (m) = Chúa tể của ánh huy hoàng.
Lưu ý: Ālokapate là từ chúng tôi đề nghị.Trong bản của Lokesh Chandra  1977  và Wikipedia là Ālokādhipati; trong Lokesh Chandra 1988  là apaloka.
- lokātikrānta là Vocative số ít của loka-atikrānta; loka (m) = thế giới, thế gian; atikrānta (a) = siêu việt --- > loka-atikrānta(m) = Đấng siêu việt thế gian --- > 6. Tadyathā: Om Ālokapate lokātikrānta  = Là như sau: Om, kính cầu Đấng Chúa Tể Của Ánh Huy Hoàng, Kính cầu Đấng Siêu Việt Thế Gian.


22.
DI HÊ RỊ  23. MA HA BỒ ĐỀ TÁT ĐỎA  24.TÁT BÀ TÁT BÀ   25. MA RA MA RA  26. MA HÊ MA HÊ RỊ ĐÀ DỰNG
7. Ehi Hare mahā-bodhisattva sarpa-sarpa smara smara mama hṛdayam
- ehi là ngôi hai số ít thì Imperative của ā+i = e (II eti)= đi, tới, đến . Lưu ý : ihi là ngôi hai số ít thì Imperative của i (II eti) = đi, tới, đến. Trong Lokesh Chandra 1977, và Wikipedia là ehy
- Hare là Vocative số ít của Hari. Theo ngữ nghĩa, hari (m) = người loại bỏ đi những tội lỗi. Hara là một thuật ngữ trong Thiền, có nghĩa là trung tâm tinh thần của con người. Trong đạo Hindu, danh từ riêng Hari  là một danh hiệu của thần Viṣṇu; Hara là một danh hiệu của thần Śiva (Kṛṣṇa). Một trong những biểu hiện quyền uy dũng mãnh của Hari là hai bộ mặt: Mặt Thượng Đẳng (mặt dạng của heo rừng đực (varāha)), và Mặt Sư Tử (mặt của Sư tử người, mặt của người Đại chiến sĩ (narasiṃha)). Một trong những biểu hiện quyền uy dũng mãnh của Hara là con rắn màu đen (kṛṣṇa sarpa) tương trưng bởi sợi dây thiêng. Trong quá trình tiến hóa của thần chú Nīlakaṇṭha , các thuộc tính quyền uy dũng mãnh này của Hari-Hara được chuyển nhập vào Nīlakaṇṭha (25)

- mahā-bodhisattva là Vocative số ít của mahā-bodhisattva (m) = Đại Bồ Tát
- sarpa là ngôi hai số ít thì Imperative của sṛp (I sarpati) = lướt tới, lượn tới
- smara là ngôi hai số ít thì Imperative của smṛ (I smarati) = nhớ
- mama = của tôi (Genitive số ít của mad = tôi)
- hṛdayam là Accusative số ít của hṛdaya (n) = Tâm, tâm trí. Ở đây thay cho “hṛdaya -dhāraṇī”  =  thần chú về tâm hay  Tâm Chú --- >7. ehi Hare mahā-bodhisattva sarpa-sarpa smara smara mama hṛdayam = Xin ngài hãy đến, hỡi ngài Hari, Ngài Đại Bồ Tát, xin ngài hãy lướt tới, hãy lướt tới, xin ngài hãy nhớ, hãy nhớ bài Tâm Chú của con.

 27. CU LÔ CU LÔ YẾT MÔNG  28. ĐỘ LÔ ĐỘ LÔ PHẠT XÀ DA ĐẾ
 29. MA HA PHẠT XÀ DA ĐẾ

8. Kuru-kuru karma dhuru-dhuru vijayate mahā-vijayate
- kuru là ngôi hai số ít thì Imperative của kṛ (VIII karoti) = làm, thực hiện
- karma là Accusative số ít của karman (n) = nhiệm vụ, nghĩa vụ, nghiệp
- dhuru là một cách đọc từ dhara trong thần chú tại đây vì hiệp âm kuru; dhara là ngôi hai số ít thì Imperative của dhṛ (I dharati) = bám chặt (mục tiêu), kiên trì (thực hiện) (Xem giải thích về sự thay đổi trùng âm (assonance) để từ “sara” thành “siri”, “suru” trong câu 11 dưới đây)
- vijayate là Vocative số ít của vijayati (m) = jayati (m) = người chiến thắng; - mahā-vijayati (m) = người chiến thắng vĩ đại --- >
8. Kuru-kuru karma dhuru-dhuru vijayate mahā-vijayate = Xin ngài hãy hoàn thành- hoàn thành nghĩa nghiệp, xin ngài hãy kiên trì, kiên trì (thực hiện), hỡi Ngài Chiến Thắng, Ngài Chiến Thắng Vĩ Đại.
 
30. ĐÀ RA ĐÀ RA  31. ĐỊA RỊ NI  32. THẤT PHẬT RA DA  33. GIÁ RA GIÁ RA   34. MẠ MẠ PHẠT MA RA   35. MỤC ĐẾ LỆ

9. Dhara-dhara dharaṇī-rāja cala-cala mama vimala-mūrte
- dhara là ngôi hai số ít thì Imperative của dhṛ (I dharati) = bám chặt (mục tiêu), kiên trì (thực hiện)
- dharaṇī-rāja là Vocative số ít của dharaṇī-rāja (m); dharaṇī (f)  = quả đất; rāja thay cho “rājan (n) = ông vua” trong từ kép --- > dharaṇī-rāja  = Vua của địa cầu. Trong Lokesh Chandra 1977 và Wikipedia là dhāriṇī-rāja
- cala là ngôi hai số ít thì Imperative của cal (I calati) = tiến tới, tiến lên
- vimala-mūrte là Vocative số ít của vimala-mūrti (f) ; vimala (a) = không tì vết, tinh khiết; mūrti (f)  = thần tượng --- > vimala-mūrti (f) = thần tượng không tì vết . Trong Lokesh Chandra 1977 là vimala-mūrtte; trong Wikipedia là vimalā-mūrtte ; trong Lokesh Chandra 1988 là vimala- mūrtte  re.
 --- > 9. Dhara-dhara dhārinī-rāja cala-cala mama vimala-mūrte  = Xin ngài hãy bám chặt, bám chặt (mục tiêu), hỡi Đức Vua Của Địa Cầu. Xin ngài hãy tiến lên-tiến lên, hỡi Thần Tượng Không Tì Vết của con.

36. Y HÊ DI HÊ  37. THẤT NA THẤT NA  38. A RA SÂM PHẬT RA XÁ LỢI 39. PHẠT SA PHẠT SÂM   40. PHẬT RA XÁ DA
10. ehi  ehi kṛṣṇa-sarpopavīta
viṣa- viṣaṃ praṇāśaya .

- ehi là ngôi hai số ít thì Imperative của ā+i = e (II eti)= đi, tới, đến
- kṛṣṇa-sarpopavīta là Vocative số ít của kṛṣṇa-sarpa-upavīta; kṛṣṇa (a) = đen; sarpa (m) = con rắn; upavīta (n) = chúng sinh có phẩm chất qua sợi dây thiêng --- > kṛṣṇa-sarpa-upavīta  = Ngài có phẩm chất qua sợi dây thiêng với hình ảnh con rắn màu đen. Con rắn màu đen tương trưng thuốc giải đối với mọi chất độc. Như vậy, kṛṣṇa-sarpa-upavīta là một ngài có khả năng trừ khử mọi chất độc bên ngoài cũng như trong tâm con người. Theo Lokesh Chandra, kṛṣṇa-sarpa-upavīta là một danh hiệu của Avalokiteśvara (26). Ngoài ra từ kép kṛṣṇa-sarpa-yajñopavīta (Ngài có phẩm chất qua sợi dây thiêng được sự sùng kính tạo ra bởi con rắn màu đen) có trong phiên bản Chú Đại Bi của Vajrabodhi (T 1061) (27)

- viṣa-viṣam là Accusative của viṣa-viṣa (m); viṣa (m) = chất độc --- > viṣa-viṣa (m) = mọi chất độc
- praṇāśaya là ngôi hai số ít của “Causative  praṇāśayati = hủy diệt sạch” của động từ pra+naś; với naś (IV naśyati) = bị mất, biến mất; Causative ṇāśayati = hủy diệt
--- >
10. ehi  ehi kṛṣṇa-sarpopavīta viṣa- viṣaṃ praṇāśaya = Xin hãy đến, hãy đến, hỡi Ngài với sợi dây thiêng là phẩm chất của con rắn màu đen, xin hãy hủy diệt sạch mọi thứ độc.
       Lưu ý: Câu này trong các bản của Tôn Pháp (Bhagavaddharma) và Bất Không Kim Cương (Amoghavajra) đều bị ghi lại sai lạc đến mức không thể chỉnh sửa được. Trong Lokesh Chandra 1977 có những từ “chinda chinda arṣa pracali”, trong
Wikipedia có “chinda chinda ars pracali vaśa-vaśam” đều không cho ta hiểu ý nghĩa là gì. Cho nên theo Lokesh Chandra, câu  này là câu khó khôi phục nhất trong Chú Đại Bi

41. HÔ LÔ HÔ LÔ MA RA  42. HÔ LÔ HÔ LÔ HÊ RỊ  43. TA RA TA RA
44. TẤT RỊ TẤT RỊ   45. TÔ RÔ TÔ RÔ

11. Hulu-hulu Malla hulu-hulu Hare sara-sara siri-siri suru-suru
    Theo chúng tôi có hai cách giải thích từ “hulu” như sau: 
    Cách 1: huluhulu là một biến dạng (variant) của phuluphulu. Và : phuluphulu hay phulaphula hay huluhulu là từ tượng thanh (onomatopoeti), là âm thanh phát ra bởi đạo quân của Ma Vương (Māra), được mô tả là khủng khiếp và ác nghiệt (horrible and harsh) (28). Ở đây, nói lên tinh thần khẩn trương, nên có thể hiểu như “xin hãy nhanh lên, nhanh lên”.
    Cách 2 : hulu là cách đọc từ dhora trong thần chú ở đây; dhora là ngôi hai số ít thì Imperative của động từ dhor (I dhorati) = nhanh chóng (be quick) (xem giải thích rõ hơn về sự thay đổi trùng âm để từ “sara” thành “siri”. “suru”  dưới đây)
- malla là Vocative số ít của malla (m) = người vô cùng mạnh mẽ
- Hare là Vocative của Hari. Cả hai từ Malla và Hari đều là biểu tượng quyền năng, sức mạnh của Nīlakṇṭha hay Avalokiteśvara. Trong Lokesh Chandra 1977 và Wikipedia từ smara thay cho Malla ở đây, và không có từ Hare.
-
sara là ngôi hai số ít thì Imperative của sṛ (I sarati) = chạy, lướt, di chuyển, đi
- siri, suru là các từ có được do sự thay đổi nguyên âm cách cố ý của từ “sara”  để tạo ra ấn tượng có hiệu quả thần thánh của câu chú. Sự thay đổi cố ý có thể là thay nguyên âm (vocalic variation) hay giữ nguyên âm chỉ thay đổi phụ âm để có sự trùng âm (assonance) hay kết hợp cả hai  như sara thành siri, suru; rồi suru thành muru;  dhara thành dhuru hay dhora thanh hulu. Sự cố ý thay đổi trùng âm (assonance) này để tạo hiệu quả thần thánh trong câu chú bởi theo kinh Vệ Đà thì các thần thánh ưa thích sự bí ẩn (cryptic) (29) --- >
11. Hulu-hulu Malla hulu-hulu Hare sara-sara siri-siri suru-suru  = Xin nhanh lên, xin nhanh lên, hỡi Ngài Dũng Mãnh, xin nhanh lên, xin nhanh lên , hỡi Ngài Hari, xin hãy lướt tới, hãy lướt tới, xin hãy lượn xuống, hãy lượn xuống, xin hãy hạ cố lượn xuống, hãy hạ cố lượn xuống (30)
    Lưu ý: Câu chú này nói lên sự khẩn cầu cứu độ từ Bồ Tát Nīlakaṇṭha hay Avalokiteśvara dưới hình tượng: Bồ Tát ở “Cõi Trời” nhìn xuống, xót thương hạ cố xuống Cõi Trần, chúng sinh từ Cõi Trần ngước mắt ngưỡng vọng nhìn lên đón nhận ân huệ từ Bồ Tát. Sự đón nhận ân huệ đó thực chất là quá trình thâm nhập chậm chậm của Tâm Trí Bồ Tát vào thân tâm của chúng sinh, quá trình biến đổi tâm phàm phu của chúng sinh thành Tâm Bồ Tát
46. BỒ ĐỀ DẠ BỒ ĐỀ DẠ  47. BỒ ĐÀ DẠ BỒ ĐÀ DẠ  48. DI ĐẾ RỊ DẠ 49. NA RA CẨN TRÌ  50. ĐỊA RỊ SẮC NI NA   51. BÀ DẠ MA NA   52. TA BÀ HA  
12. Bodhiya-bodhiya bodhaya-bodhaya maitreya Nīlakaṇṭha darśanena prahlādaya manaḥ svāhā
- bodhiya là Vocative số ít của bodhiya (m) = bậc đã giác ngộ
- bodhaya là ngôi hai số ít của Causative “bodhayati = làm cho (ai) giác ngộ” của động từ budh (I bodhati/ bodhate;  IV budhyate) = giác ngộ --- > bodhaya = xin ngài hãy giác ngộ con
- maitreya (a) = có lòng từ, có lòng thương người, nhân từ, thân thiện
- Nīlakaṇṭha là Vocative của Nīlakaṇṭha
- darśanena là Instrumental số ít của darśa (n) = sự xuất hiện
- prahlādaya là ngôi hai số ít thì Imperative của Causative “prahlādayati = làm vui lòng” của động từ prahlād (I prahlādate) = được vui sướng, được thoải mái
- manaḥ là Acuusative số ít của manas (n) = tâm, tâm trí

- svāhā (ind.) : một tán thán từ diễn tả ý như:  Xin chào! Xin chào mừng! Xin chào mừngng thắng lợi ! Xin chào mừng thành công! Cầu chúc mong được gia hộ, độ trì! Nếu có danh từ đi kèm theo svāhā thì danh từ ở Dative. Trong Lokesh Chandra 1977 và Wikipedia không có từ svāhā, mà nửa sau của này là “maitriya  Nīlakaṇṭha [dehi me] darśanam”
--- > 12. Bodhiya-bodhiya bodhaya-bodhaya maitreya Nīlakaṇṭha darśanena prahlādaya manaḥ svāhā  = Hỡi Ngài đã giác ngộ, ngài đã giác ngộ, Xin ngài hãy giác ngộ con, hãy giác ngộ con. Hỡi ngài Cổ Xanh đầy lòng nhân từ, Xin ngài hãy làm cho tâm con an lạc bằng cách hiện ra (trong tâm con). Con xin đón mừng Ngài!

53. TẤT ĐÀ DẠ   54. TA BÀ HA   55. MA HA TẤT ĐÀ DẠ   56. TA BÀ HA   57. TẤT ĐÀ DU NGHỆ   58.  THẤT BÀN RA DẠ   59. TA BÀ HA

13. siddhāya svāhā mahā-siddhāya svāhā siddhayogīśvarāya svāhā

 - siddhāya là Dative (vì đi với svāhā ) số ít của siddha (m) = bậc thành tựu, hoàn hảo, được phú cho các khả năng siêu nhiên

- siddhayogīśvarāya là Dative số ít của siddhayogīśvara = siddha-yogi-īśvara
- yogi là từ dùng trong từ kép của yogin (a,m) = có khả năng siêu nhân, bậc thánh về thiền định
- īśvara (m) = chúa tể, vua --- > yogi-
īśvara = yogīśvara (m) = vua của các bậc thánh về thiền định --- > siddha yogīśvara = vua của các bậc thánh thiền định được thành tựu siêu nhiên --- >
13. siddhāya svāhā mahā-siddhāya svāhā siddhayogīśvarāya svāhā  =

= Xin chào mừng Bậc Thành Tựu Siêu Nhiên, xin chào mừng Bậc Đại Thành Tựu Siêu Nhiên, xin chào mừng Đức Vua Của Các Bậc Thánh Thiền Định Thành Tựu Siêu Nhiên (31)


60.
NA RA CẨN TRÌ   61. TA BÀ HA   62. MA RA NA RA   63. TA BÀ HA  64.  TẤT RA TĂNG A MỤC KHÊ DA   65.T A BÀ HA

14. Nīlakaṇṭhāya svāhā varāha-mukhāya svāhā narasiṃha-mukhāya svāhā  
- varāha (m) = lợn rừng đực; khi làm thành phần của từ kép, nó có nghĩa “nổi bật, thượng đẳng”
- mukha (n) = mặt --- > varāha-mukha = người có gương mặt thượng đẳng (bahuvrīhi) (biểu tượng bởi “mặt heo rừng đực”)
- narasiṃha (m) = sư tử người (man-lion), người chiến binh vĩ đại --- > narasiṃha-mukha =người có gương mặt sư tử (bahuvrīhi) --- >
14.
Nīlakaṇṭhāya svāhā varāha-mukhāya svāhā narasiṃha-mukhāya svāha
= Xin đón chào mừng ngài Cổ Xanh, Xin đón chào mừng Ngài Có Gương Mặt Thượng Đẳng, xin đón chào mừng Ngài Có Gương Mặt Sư Tử.

66. TA BÀ MA HA A TẤT ĐÀ DẠ  67. TA BÀ HA   68. GIẢ KIẾT RA A TẤT ĐÀ DẠ   69. TA BÀ HA  70. BA ĐÀ MA KIẾT TẤT ĐÀ DẠ   71. TA BÀ HA

15. Gada-hastāya svāhā cakra-hastāya svāhā padma-hastāya svāhā
- gada (n) = cây quyền trượng
- hasta (m) = tay ; (khi làm hậu tố, ifc) = cầm trong tay --- > Gada-hastāya là Dative số ít của từ kép bahuvrīhi Gada-hasta (m) = người cầm quyền trượng trong tay. Trong Lokesh Chandra 1988 không có Gada-hastāya svāhā
- cakra (n) = binh khí ném hình đĩa ( đặc trưng dũng mãnh của Hari qua hình tương thần Viṣṇu, chuyển nhập qua Nīlakaṇṭha; chứ không phải “luân xa” trong ngữ cảnh này)--- > cakra-hastāya là Dative số ít của từ kép bahuvrīhi  cakra-hasta (m) = người cầm binh khí đĩa ném trong tay . 
- padma (n) = hoa sen --- > padma-hastāya là Dative của từ kép bahuvrīhi padma-hasta (m) = người cầm hoa sen trong tay --- >
15. Gada-hastāya svāhā cakra-hastāya svāhā padma-hastāya svāhā = Xin đón chào mừng Ngài Cầm Quyền Trượng Trong Tay, Xin đón chào mừng Ngài Cầm Binh Khí Đĩa Ném Trong Tay, xin đón chào mừng Ngài Cầm Hoa Sen Trong Tay.
 
72. NA RA CẨN TRÌ BÀN ĐÀ RA DẠ  73. TA BÀ HA  74. MA BÀ RỊ THẮNG YẾT RA DẠ   75. TA BÀ HA

16. Nīlakaṇṭha-vyāghrāya svāhā Mahābali-Śaṅkarāya svāhā
-  Nīlakaṇṭha-vyāghrāya là Dative số ít của Nīlakaṇṭha-vyāghra; vyāghra (m) = con cọp, người xuất sắc về sức mạnh hay về cao quí --- > Nīlakaṇṭha-vyāghra  =  Người Dũng Mãnh Cao Quí Xuất Sắc là Ngài Cổ Xanh
- Mahābali-Śaṅkarāya là Dative số ít của Mahābali-Śaṅkara;  mahābali = mahā-bali; bali là từ dùng trong từ kép của balin (a) = mạnh mẽ, đầy năng lực --- > mahābali = có đại hùng lực
-
Śaṅkara (n) = người có từ tâm --- > Mahābali-Śaṅkara = Người Từ Tâm Đại Hùng Lực --- >
16. Nīlakaṇṭha-vyāghrāya svāhā Mahābali-Śaṅkarāya svāhā = Xin đón chào mừng Ngài Dũng Mãnh Cao Quí Xuất Sắc là Ngài Cổ Xanh, Xin đón chào mừng Ngài Từ Tâm Đại Hùng Lực

V. Lời chào kết thúc :
76.
NAM MÔ HẮC RA ĐÁT NA ĐA RA DẠ DA  77. NAM MÔ A RỊ DA     78.  BÀ LÔ KIẾT ĐẾ   79. THƯỚC BÀN RA DẠ   80. TA BÀ HA

17. Namo ratna-trayāya Nama āryāvalokiteśvarāya  bodhisattvāya  svāhā   = Con xin khấu đầu qui mạng lễ Tam Bảo, con xin khấu đầu qui mạng lễ đức Tôn Thánh Quán Tự Tại, Xin chào bái biệt đức Bồ Tát trong ngưỡng mong được gia hộ độ trì.
     Câu 17 trong Tôn Pháp (Bhagavaddharma), trong Ji-un Sonja và trong Lokesh Chandra 1988 thì không có từ bodhisattvāya; trong T.1113b của Bất Không Kim Cương (Amoghavajra) không có từ bodhisattvāya nhưng lại có từ bodhi.

81. ÁN TẤT ĐIỆN ĐÔ   82. MẠN ĐÀ RA   83. BẠT ĐÀ GIA   84. TA BÀ HA

18. Oṃ sidhyantu me mantrapadāni svāhā.
- sidhyantu là ngôi ba số nhiều thì Imperatve của sidh (IV sidhyati) = được thành tựu
- mantrapadāni = mantra-padāni là Nominative số nhiều của mantra-pada (n);  mantra (m) = thần chú; pada (n) = một vế trong hai vế của câu thơ (câu thơ này là nửa câu kệ (śloka), thường là một phần tư gồm 8 âm của câu kệ gồm 32 âm --- > mantra-padāni = các câu của bài chú
- me là enclitic form của mahyam, là Dative của mad = tôi  --- >
18. Oṃ sidhyantu me mantra padāni svāhā = Om, cầu mong các câu của bài chú hãy thành tựu nơi con. Mong lắm thay!

     Câu 18 này có trong bản của Bhagavaddharma (T1060), của Chih-T’ung (T.1057b) được khôi phục bởi Rol-paḥi-rdo-rje (STP. 5.1290-6.1304, trích lại từ Lokesh Chandra, Sanskrit Texts From The Imperial Palace At Peking, Parts 1-22 : Origin Of The Avalokeśvara  Of Potala, New Delhi 1968-1977, International Academy Of Indian Culture); không có trong Lokesh Chandra 1977, trong Wikipedia, trong Lokesh Chandra 1988, trong T.1113b ở Hán tạng; nhưng trong T.1113b trên Wikipedia thì có là oṃ siddhyantu mantra padāya svāhā (32). Cũng không có trong Ji-un Sonja, mà ở đấy lại có samāpta (a) = đã hết, đã kết thúc. Như thế là nhiều bản được cho là có giá trị lớn thì không có câu 18 này. Tuy nhiên, trong bài chú Đại Bi mà giới Phật tử Việt Nam ta trì tụng lâu nay thì có (ứng với 4 câu cuối:81,82,83, và 84), cho nên để tuân thuận theo truyền thống của các bậc tiền bối trong Phật giáo Việt Nam, chúng tôi giữ lại câu này trong bản Phạn văn được chúng tôi chọn.  
 
     B. Kết quả:
         B1. Bản tiếng Phạn : Tóm lại, Chú Đại Bi có thể được hiểu như sau
:
         (gồm 5 phần, 18 câu):

I. Lời chào mở đầu:
    1. Namo ratna-trayāya 
   2. Nama āryāvalokiteśvarāya bodhisattvāya mahā-sattvāya mahā-kāruṇikāya
II.  Danh hiệu của đức Quán Tự Tại
  
3. Oṃ sarva-bhayeṣu trāṇa-karāya tasya  namaskṛtvā  imam  Āryāvalokiteśvara-stavanaṃ Nīlakaṇṭha-nāma
III. Sự tụng lên câu kệ về Công đức của bài Tâm Chú
   4. hṛdayaṃ vartayisyāmi sarvārtha-sādhanaṃ śubham
  
5. ajeyam sarva-bhūtānām bhava-mārga-viśodhakam
IV. Dhāraṇī (Các câu chú):
  
6. Tadyathā: Om Ālokapate lokātikrānta
   7. Ehi Hare mahā-bodhisattva sarpa-sarpa smara- smara mama hṛdayam
   8. Kuru-kuru karma dhuru-dhuru vijayate mahā-vijayate
   9. Dhara-dhara dharaṇī-rāja cala-cala mama vimala-mūrte
   10. ehi  ehi kṛṣṇa-sarpopavīta
viṣa- viṣaṃ praṇāśaya
  
11. Hulu-hulu Malla hulu-hulu Hare sara-sara siri-siri suru-suru 
   12. Bodhiya-bodhiya bodhaya-bodhaya maitreya Nīlakaṇṭha darśanena prahlādaya manaḥ svāhā
  
13. siddhāya svāhā mahā-siddhāya svāhā siddhayogīśvarāya svāhā
  
14. Nīlakaṇṭhāya svāhā varāha-mukhāya svāhā narasiṃha-mukhāya svāhā
   15. Gada-hastāya svāhā cakra-hastāya svāhā padma-hastāya svāhā
   16. Nīlakaṇṭha-vyāghrāya svāhā Mahābali-Śaṅkarāya svāhā
V. Lời chào kết thúc :
 
   17. Namo ratna-trayāya Nama āryāvalokiteśvarāya  bodhisattvāya  svāhā
   18. Oṃ sidhyantu me mantra padāni svāhā     

   B2. Ý Nghĩa của Chú Đại Bị qua Bản Việt Dịch:

I. Lời chào mở đầu:
1. Con  xin cung kính cúi lạy Tam Bảo (hay Con xin khấu đầu kính ngưỡng Tam Bảo, hay Con xin khấu đầu qui mạng lễ Tam Bảo)
2. Con xin cung kính cúi lạy đức Tôn thánh Quán Tự Tại, đức Bồ Tát, đức Đại Sĩ, đức Đại Bi Tâm (Con xin khấu đầu qui mạng lễ đức Tôn thánh Quán Tự Tại, đức Bồ Tát, đức Đại Sĩ, đức Đại Bi Tâm)
II.  Danh hiệu của đức Quán Tự Tại
:
3. Ôm, Con đã khấu đầu qui mạng lễ đức Ngài bảo vệ (chúng sinh) khỏi tất cả mọi khổ nạn, mà danh hiệu là Ngài Cổ Xanh (Ngài Đeo Chuỗi Tràng Hạt Cổ Màu Xanh) được tán tụng bởi đức Tôn thánh Quán Tự Tại.
III. Sự tụng lên câu kệ về Công đức của Thần chú về Tâm (Tâm chú):

4. Con sẽ tụng  lên bài Tâm Chú, có hiệu quả đối với mọi mục đích, và là chân chính
5. Và vô địch đối với mọi chúng sinh và làm thanh khiết mạnh mẽ con đường sinh tồn
IV. Dhāranī (Các câu chú):
6. Là như sau: Ôm, kính cầu Đấng Chúa Tể Của Ánh Huy Hoàng, Kính cầu Đấng Siêu Việt Thế Gian. 
7. Xin ngài hãy đến, hỡi ngài Hari, Ngài Đại Bồ Tát, xin ngài hãy lướt tới, hãy lướt tới, xin ngài hãy nhớ, hãy nhớ bài Tâm Chú của con.
8. Xin ngài hãy hoàn thành- hoàn thành nghĩa nghiệp, xin ngài hãy kiên trì, kiên trì (thực hiện), hỡi Ngài Chiến Thắng, Ngài Chiến Thắng Vĩ Đại.
9. Xin ngài hãy bám chặt, bám chặt (mục tiêu), hỡi Đức Vua Của Địa Cầu. Xin ngài hãy tiến lên-tiến lên, hỡi Thần Tượng Không Tì Vết của con.
10. Xin hãy đến, hãy đến, hỡi Ngài với sợi dây thiêng là phẩm chất của con rắn màu đen, xin hãy hủy diệt sạch mọi thứ độc.
11. Xin nhanh lên, xin nhanh lên, hỡi Ngài Dũng Mãnh, xin nhanh lên, xin nhanh lên , hỡi Ngài Hari, xin hãy lướt tới, hãy lướt tới, xin hãy lượn xuống, hãy lượn xuống, xin hãy hạ cố lượn xuống, hãy hạ cố lượn xuống.
12.  Hỡi Ngài đã giác ngộ, ngài đã giác ngộ, Xin ngài hãy giác ngộ con, hãy giác ngộ con. Hỡi ngài Cổ Xanh đầy lòng nhân từ, Xin ngài hãy làm cho tâm con an lạc bằng cách hiện ra (trong tâm con). Con xin đón chào mừng Ngài!
13.
Xin đón chào mừng Bậc Thành Tựu Siêu Nhiên, xin đón chào mừng Bậc Đại Thành Tựu Siêu Nhiên, xin đón chào mừng Đức Vua Của Các Bậc Thánh Thiền Định Thành Tựu Siêu Nhiên.

14.  Xin đón chào mừng ngài Cổ Xanh, Xin đón chào mừng Ngài Có Gương Mặt Thượng Đẳng (Mặt Heo Rừng), xin đón chào mừng Ngài Có Gương Mặt Sư Tử.
15. Xin đón chào mừng Ngài Cầm Quyền Trượng Trong Tay, Xin đón chào mừng Ngài Cầm Binh Khí Đĩa Ném Trong Tay, xin đón chào mừng Ngài Cầm Hoa Sen Trong Tay
16. Xin đón chào mừng Ngài Dũng Mãnh Cao Quí Xuất Sắc là Ngài Cổ Xanh, Xin đón chào mừng Ngài Từ Tâm Đại Hùng Lực
V. Lời chào kết thúc:
17. Con xin khấu đầu qui mạng lễ Tam Bảo, con xin khấu đầu qui mạng lễ đức Tôn Thánh Quán Tự Tại, Xin chào bái biệt đức Bồ Tát trong ngưỡng mong được gia hộ độ trì.
18. Ôm, cầu mong các câu của bài chú hãy thành tựu nơi con. Mong lắm thay!

   B3. Bản phiên âm tực tiệp từ Phạn ra Việt của Chú Đại Bị
Lưu ý :
a. Tiếng Phạn là đa âm, tiếng Việt là đơn âm, cho nên các từ Việt tương ứng với một từ Phạn thì chúng tôi cho gạch nối giữa các từ Việt ấy. Do đó khi đọc các từ có gạch nối với nhau  thì đọc liên tiếp mà không ngừng lại giữa chừng.
             b. Những nguyên âm dài  ā, ī, ū được phiên âm thành aa, ii, uu và đọc aa là a với trường độ dài gấp đôi a. Tương tự các âm ô, ê đều là âm dài
             c. Những từ trong dấu ngoặc được đọc liền thành một âm với từ theo sau chứ không đọc thành 2 âm riêng biệt, chẳng hạn (XƠ)VA

       1. NA-MÔ    RÁT-NA-TRA-DAA-DA
       2. NA-MA   AA-(RƠ)DAA-VA-LÔ-KI-TÊ-(SƠ)VA-RAA-DA   BÔ-ĐI-XÁT-(TƠ)VAA-DA    MA-HAA-XÁT-(TƠ)VAA-DA    MA-HAA-CAA-RU-NI-CAA-DA
       3. ÔM   XA-(RƠ)VA-BA-DÊ-SU   TRAA-NA-CA-RAA-DA    TA-(XƠ)DA  NA-MA-(XƠ)(CƠ)RƯ-(TƠ)VAA    I-MAM    AA-(RƠ)DAA-VA-LÔ-KI-TÊ-(SƠ)VA-RA-(XƠ)TA-VA-NAM     NII-LA-CAN-THA-NAA-MA
      4. (HƠ)RƯ-ĐA-DAM    VA-(RƠ)TA-DI-(XƠ)DAA-MI     XA-(RƠ)VAA-(RƠ)THA-XAA-ĐA-NAM     SU-BAM
      5. A-RÊ-DAM     XA-(RƠ)VA-BUU-TAA-NAAM    BA-VA-MAA-(RƠ)GA-VI-SÔ-ĐA-CAM
      6. TA-(ĐƠ)DA-THAA : ÔM    AA-LÔ-CA-PA-TÊ    LÔ-CAA-TI-(CƠ)RAAN-TA
      7. Ê-HI   HA-RÊ    MA-HAA-BÔ-ĐI-XÁT-(TƠ)VA    XA-(RƠ)PA     XA-(RƠ)PA  (XƠ)MA-RA    (XƠ)MA-RA    MA-MA    (HƠ)RƯ-ĐA-DAM
      8. CU-RU  CU-RU  CA-(RƠ)MA   ĐU-RU  ĐU-RU   VI-RA-DA-TÊ     MA-HAA-VI-RA-DA-TÊ
      9. ĐA-RA   ĐA-RA   ĐA-RA-NII-RAA-RA    SA-LA  SA-LA  MA-MA   VI-MA-LA-MUU-(RƠ)TÊ
     10. Ê-HI   Ê-HI   (CƠ)RƯ-(SƠ)NA   XA-(RƠ)PÔ-PA-VII-TA   VI-SA   VI-SAM  (BƠ)RA-NAA-SA-DA
     11. HU-LU   HU-LU    MA-(LƠ)LA   HU-LU  HU-LU   HA-RÊ    XA-RA  XA-RA  XI-RI    XI-RI     XU-RU    XU-RU
     12. BÔ-ĐI-DA    BÔ-ĐI-DA   BÔ-ĐA-DA   BÔ-ĐA-DA   MAI-TRÊ-DA    NII-LA-CAN-THA   ĐA-(RƠ)SA-NÊ-NA   (PƠ)RA- (HƠ)LAA-ĐA-DA   MA-NA(HA)   (XƠ)VAA-HAA
     13. XI-(ĐƠ)ĐAA-DA   (XƠ)VAA-HAA    MA-HAA-XI-(ĐƠ)ĐAA-DA  (XƠ)VAA-HAA    XI-(ĐƠ)ĐA-DÔ-GHII-(SƠ)VA-RA    (XƠ)VAA-HAA
     14. NII-LA-CAN-THAA-DA   (XƠ)VAA-HAA   VA-RAA-HA-MU-KHAA-DA   (XƠ)VAA-HAA   NA-RA-XIM-HA-MU-KHAA-DA   (XƠ)VAA-HAA
     15. GA-ĐA-HA-(XƠ)TAA-DA    (XƠ)VAA-HAA    SA-(CƠ)RA-HA-(XƠ)TAA-DA   (XƠ)VAA-HAA    PA-(ĐƠ)MA-HA-(XƠ)TAA-DA    (XƠ)VAA-HAA
     16. NII-LA-CAN-THA-(VƠ)DAA-(GƠ)RAA-DA   (XƠ)VAA-HAA    MA-HAA-BA-LI- SAN-CA-RAA-DA    (XƠ)VAA-HAA   
     17. NA-MÔ    RÁT-NA-TRA-DAA-DA     NA-MA   AA-(RƠ)DAA-VA-LÔ-KI-TÊ-(SƠ)VA-RAA-DA    BÔ-ĐI-XÁT-(TƠ)VAA-DA     (XƠ)VAA-HAA
    18. ÔM  XI-(ĐƠ)DAN-TU   MÊ  MAN-TRA-PA-ĐAA-NI   (XƠ)VAA-HAA 
                        ------------------------------------------------------------

     Phần III.  Để giúp cho các độc giả, nhất là các vị muốn tìm hiểu sâu về các bản Phạn văn cũng như ý nghĩa của chú Đại Bi, chúng tôi xin ghi lại đây các bản Phạn, Hán, và chú giải về Chú Đại Bi được nhiều người quan tâm. Đây cũng là những tư liệu chính mà chúng tôi đã tham khảo để đề nghị ra bản Phạn văn và Ý nghĩa của Chú Đại Bi trên đây. Tuy nhiên cần lưu ý rằng, trừ bản Lokesh Chandra 1988, và bản của Ji-un Sonja, các bản còn lại thì chứa nhiều chỗ không đúng theo ngữ pháp Phạn văn, và đôi khi không thể nhận ra ngữ nghĩa từ Phạn văn; một số bản kèm theo giải thích ý nghĩa theo sự suy đoán chủ quan của người giải thích mà không tương thích với ngữ nghĩa của câu tiếng Phạn; đặc biệt các bản được giải thích là mỗi câu chú (trong 84 câu mà Phật tử  Việt Nam ta đọc lâu nay) là hình tượng của một vị Bồ Tát thì hoàn toàn không tương thích với ý nghĩa của câu tiếng Phạn.
I. Bản Lokesh Chandra 1988 (33). Bản này có được do Lokesh Chandra so sánh các bản của Bhagavaddharma (Bh), Amoghavajra (Am), Ji-un Sonja (Ji) và Korean (Ko)
 
            CONSTITUTED TEXT OF THE VULGATE VERSION (BH,AM)
       1. namo ratna-tray āya | nama aryᾹvalokiteśvarāya  bodhisattvāya mahāsattvāya  mahākāruṇikāya |  Oṃ sarva-bhayeṣu  trāṇa-karāya tasya namaskṛtvā imam āryᾹvalokiteśvara-stavanaṃ  Nīlakaṇṭha-nāma |
      2. hṛdayaṃ vartayiṣyāmi  sarva-artha-sādhanaṃ śubham  |
          ajeyaṃ sarva-bhūtānāṃ  bhava-mārga-viśodhakam ||
      3. Tadyathā |  Om apaloka  lokātikrānta ehi  Hare mahābodhsattva sarpa sarpa | smara  smara  mama hṛdayam | kuru kuru karma | dhuru dhuru vijayate mahāvijayate | dhara dhara dharaṇī-rāja |  cala cala mama vimala-mūrtte re | ehy ehi kṛṣṇa-sarp-opavīta | viṣa-viṣaṃ praṇāśaya | hulu hulu Malla | hulu hulu Hare | sara saa siri siri suru suru | bodhiya bodhiya bodhaya bodhaya maitriya Nīlakaṇṭha | darśanena prahlādaya manaḥ svāhā ||
       siddhāya svāhā | mahāsiddhāya svāhā | siddha-yogeśvarāya svāhā | Nīlakaṇṭhāya svāhā | varāha-mukhāya  svāhā | padma-hastāya svāhā | cakra-hastāya  svāhā | padma-hastāya? svāhā | Nīlakaṇṭha-vyāghrāya svāhā | mahābali-śaṅkarāya svāhā ||

   4. namo ratna-trayāya  | nama  āryᾹvalokiteśvarāya svāhā ||
                                        -------------------------------------------------------

Lokesh Chandra đã dịch bản trên đây ra tiếng Anh như sau (34)

        1. Adoration to the Triple Gem. Adoration to ārya Avalokiteśvara, bodhisattva, mahāsattva, The Great Compassionate One.
  Om, Having paid adoration to One who protects in all dangers, here is the [recitation] of the name of Nīlakaṇṭha, as chanted by  ārya Avalokiteśvara
      2. I shall enunciate the “heart” [dhāraṇī] which ensures all purposes, is pure and invincible for all beings, and which purifies the path of existence
     3. Thus : Om, Oh Effulgence, World-Transcendent, come Oh Hari, the great bodhivattsa, descend, descend. Bear in mind my heart-dhāraṇī. Accomplish, accomplish the work. Hold fast, hold fast, Victor, Oh Great Victor. Hold on, hold on, Oh Lord of the Earth. Move, move, Oh my Immaculate Image. Come, come, Thou with the black serpent as Thy sacred thread. Destroy every poison. Quick, quick, Oh Strong Being. Quick, quick Oh Hari. Descend, descend, come down, come down, condescend, condescend. Being enlightened, being enlightend, enlighten me, enlighten me, Oh Merciful Nīlakaṇṭha. Gladen my heart by appearing unto me.
     To the Siddha hail. To the Great Siddha hail. To the Lord of Siddha Yogins hail. To Nīlakaṇṭha hail. To the Boar-faced One hail. To One with theface of Narasiṃha hail. To the One who has a lotus in hand hail. To the Holder of a cakra in his hand hail. To One who sports a lotis(?)  in His hand hail. To Nīlakaṇṭha the tiger hail. To the mighty Śaṅkara hail.
       4. Adoration to the Triple Gem. Adoration to ārya Avalokiteśvara hail.

II. Bản Lokesh Chandra 1977 : Lokesh Chandra  đã điều chỉnh bản T.1113b của Amoghavajra (có ghi lại dưới đây) bằng cách đối chiếu với bản của Chi-t’ung mà Rol-paḥi-rdo-rje khôi phục lại, tức bản STP. 5.1290-6.1304 (có ghi lại dưới đây) , để đưa ra bản Chú Đại Bi sau đây (35). Trong bản này vẫn có câu :” chinda-chinda | arṣa pracali” mà chính Lokesh Chandra cũng không thể nhân ra ngữ nghĩa.
       1. Namo Ratna-trayāya |  Nama āryāvalokiteśvarāya bodhisattvāya mahāsattvāya mahākāruṇikāya ||
      2 . Oṃ | sarva-bhaya-śodhanāya tasya namaskṛtvā imu Ᾱryāvalokiteśvara tava namo  Nīlakaṇṭha ||
      3. Hṛdayaṃ vartayiṣyāmi vartayiṣyāmi sarvārtha-sādhanaṃ śubham|
   ajeyaṃ sarva-bhūtānāṃ bhava-mārga-viśodhakam ||
      4. Om | Ᾱlokādhipati lokātikrānta | ehy-[ehi] mahābodhisattva sarpa-sarpa | smara –smara hṛdayam | kuru-kuru karma | dhuru-dhuru vijayate mahāvijayate | dhara-dhara dhāriṇī-rāja | cala-cala mama vimala-mūrtte, ehi-ehi | chinda-chinda | arṣa pracali | viṣaṃ-viṣaṃ praṇāśaya | hulu-hulu smara hulu-hulu | sara-sara siri-siri suru-suru | bodhiya-bodhuya bodhaya-bodhaya | maitriya Nīlakaṇṭha [dhehi me] darśanam ||

    Praharāyamāṇāya svāhā | siddhāya svāhā | mahāsiddhāya svāhā | siddhayogīśvarāya svāhā | Nīlakaṇṭhāya svāhā | varāha-mukhāya svāhā | narasiṃha-mukhāya svāhā | gada-hastāya svāha | cakra-hastāya  svāhā | padma-hastāya svāhā |
   Nīlakaṇṭha-pāṇḍarāya svāhā | Mahātali-śaṅkarāya svāhā ||

       5. Namo ratna-trayāya| Nama āryāvalokiteśvarāya bodhisattvāya svāhā ||

 

      Lokesh Chandra đã dịch bản Phạn văn này ra tiếng Anh như sau (36) :
       1. Adoration the Triple Gem
    Adoration the noble Avalokiteśvara, boshisattva, mahāsattva, the Great Compassionate One.
      2. Om. Having paid adoration to One who dispels all fears, O noble Avalokiteśvara, to You adoration, O Nīlakaṇṭha.
      3. I shall enunciata the  ‘heart’ dhāraṇī which ensures all purposes, is pure and invincible  for all beings, and which purifies the path of existence.
      4. Thus:
Om. Lord of Effulgence, the World-Transcending One.
Come, come, great bodhisattva, descend, descend.  Bear in mind my heart-dhāraṇī. Do do the work. Hold fast, hold fast, Oh Victor, oh Great Victor. Hold on, hold on Oh Lord of the Dhāraṇī. Move, move oh my immaculate image, come, come.    …     …    …   … Destroy every poison. Quick, bear in mind, quick, quick. Descend descend, descend descend, descend descend. Being enlightened, being enlightend, enlighten me, enlighten me. Oh merciful Nīlakaṇṭha hail. To the Board-faced One hail. To One with the Face of Narasiṃha hail. To One who bears the mace in his hang, hail. To the Holder of cakra in his hand, hail. To One who sports a lotus in his hand, hail. To Nīlakaṇṭha smeard [with ashes], hail. To the mighty Śaṅkara hail.
        5. Adoration to the Triople Gem. Adoration to the noble Avalokiteśvara bodhisattva, hail.

    III. Bản Wikipedia (37) dựa theo bản của Lokesh Chandra1977

Nīlakaṇṭha Dhāranī (The Blue Necked Dhāranī). Trong bản này, câu “chinda chinda aras pracali” được dịch thành : “the vow, the vow of the admantine king” thì chúng tôi không rõ là căn cứ vào đâu vì bản thân câu Phạn này không có ngữ nghĩa gì. Ngoài ra có vài chỗ nữa, tiếng Phạn không phù hợp với ngữ nghĩa.

Namo ratna-trayāya
(Adoration of the triple Gem)

    1. Initial Salutation

Nama āryāvalokite-śvarāya bodhisattvāya mahā-sattvāya mahā-kārunikāya
(Adoration to the noble Lord who looks down, the enlightened sentient being, the great being, the merciful one!)

     2. Name of Avalokiteśvarā

Om sarva-bhaya-śodhanāya tasya namaskrtvā imu Ārya-valokite-śvarā tava namo Nīlakantha 2
(Om! Having paid adoration to One who dispels all fears, the noble Avalokiteśvarā, adoration to the blue-necked one!)

     3. śloka enunication of the merit of the hrdaya-dhāranī

Hrdayam vartayisyāmi sarvārtha-sādhanam śubham 3 ajeyam sarva-bhūtānām bhava-mārga-viśodhakam 4
(I shall enunciate the heart dharani which ensures all purpose, is pure and invincible for all beings, and which purifies the path of existence.)

    4. Dhāranī

Tadyathā: Om Ālokādhipati lokātikrānta
(Like this: Om! Lord of Effulgence, the World-Transcending One.)

Ehy mahā-bodhisattva sarpa-sarpa smara smara hrdayam
(Come, great bodhisattva, descend, descend. Please remember (smara) my heart dharani.)

Kuru-kuru karma dhuru-dhuru vijayate mahā-vijayate
(Do, do the work. Hold fast, hold fast, Victor, the great Victor)

Dhara-dhara dhārinī-rāja cala-cala mama vimalā-mūrtte
(Hold on, hold on, King of the Dharani. Move, move onto my spotless image.)

Ehi ehi chinda chinda aras pracali vaśa-vaśam pranāśaya
(Come, come, the vow, the vow of the admantine king, destroy, destroy every poison.)

Hulu-hulu smara hulu-hulu sara-sara siri-siri suru-suru
(Quick-quick, please remember, quick-quick. Descend-descend, descend-descend, descend-descend)

Bodhiya-bodhiya bodhaya-bodhaya maitriya Nīlakantha [dehi me] darsanam
(Being enlightened, being enlightened; enlighten me, enlighten me. Merciful Blue-necked One appear [unto me].)

Praharāyamānāya svāhā siddhāya svāhā mahā-siddhāya svāhā siddhayogīśvarāya svāhā
(To you who sees us, hail! To the Successful one hail! To the Great Successful one hail! To the Successful Lord of the yogis, hail!)

Nīlakanthāya svāhā varāha-mukhāya svāhā narasimha-mukhāya svāha
(To the Blue-necked one (Nīlakantha) hail! To the Boar-faced One hail! To Man-Lion faced One hail!)

Gadā-hastāya svāhā cakra-hastāya svāhā padma-hastāya svāhā
(To one who bears the mace (gadā) in his hand, hail! To the holder of discus in his hand, hail! To One who sports a lotus (padma) in his hand, hail!)

Nīlakantha-pāndarāya svāhā Mahātali Śankaraya svāhā
(To Blue-necked One smeared (with holy ashes), hail! To the mighty auspicious one, hail!)

        5. Final Salutation

Namo ratna-trayāya Nama āryāvalokite-śvarāya bodhisattvāya svāhā
(Adoration to the Triple Gem, adoration to the noble Āvalokiteśvarā (Lord who looks down), the enlightened being, hail!)

   IV. Bản của Amoghavajra (Bất Không Kim Cương). Bản này được ghi bằng ký tự Siddham  trong Hán Tạng (Đại Chính Tân Tu Đại Tạng Kinh) với mã số T.1113b, 20.44498-501).  Chuyển ký tự Siddham ra tiếng Phạn ngày nay, bản của Amoghavajra theo Lokesh Chandra sẽ như sau (38). Nhưng như nhận xét của Lokesh Chandra, chữ Phạn của bản này đã chứa những từ viết sai và những từ không thể nhận ra ngữ nghĩa được.
    1. Namo Ratna-trayāya |
        Namo āryāvalokiteśvarāya, bodhisatvāya mahāsatvāya mahākāruṇikāya |
    2. Oṃ sarva-rabhya-śudhana dasya namoskṛta imo aryāvarukitesivaraṃ dhava namo narakidhi |
    3. Herima vadhaṣame sava athādu subhaṃ |
        ajeyaṃ sarva-bhūtanama va-gama-vadudu ||
    4. Tadyathā |
         Om | Avaloka     lokatekarate  | ehya mahābodhisatva sarva sarva | mala mala mama hṛdayaṃ | kuru kuru karma | dhuru dhuru vajayate mahavajayate | dhara dhara dhirini-rāya | cala-cala mama vamara-muktele, ehe-ehe | cinda cinda | arṣam pracali | vaṣa-vaṣam praśaya | huru huru mara huru huru | sara sara siri siri suru suru | bodhiya bodhiya bodhaya bodhaya | maitriya Narakindi dhaṣiṇina paṣamana svāhā | siddhāya svāhā | mahāsiddhāya svāhā | siddhāyogeśvakaraya svāhā | Nara kindi svāhā |
Maranara svāhā | sirasaṃha-mukhāya svāhā | pamahāsiddhāya svāhā | cakrasiddhāya svāhā | padma-kastaya svāhā | Narakindi vagaraya svāhā | mabari sankaya svāhā.
    5. Namo ratna-trayāya | Namo aryāvarokiteśvaraya bodhi svāhā || 
 

     V. Bản dịch chú Đại Bi ra tiếng Anh của Suzuki.
     D.T.Suzuki đã căn cứ vào bản T.1113b của Amoghavajra trên đây và phần chữ Hán đi kèm trong Hán Tạng mà dịch Chú Đại Bi ra tiếng Anh như sau đây. Nhưng như Lokesh Chandra đã nói, chính bản Phạn văn này chứ nhiều chỗ sai lạc cho nên bản dịch của Suzuki cũng chứa nhiều chỗ sai (xin xem phần trích lời bình của Lokesh Chandra ở sau). Trước hết, chúng ta xem bản dịch của Suzuki (39) :

DHᾹṆĪ  OF THE GREAT COMPASSIONTE ONE

Adoration to the Triple, Treasure!
Adoration to Avalokiteśvara the Bodhisattva-Mahāsattva who is the Greate Compassionate One!
Om, to the One who performs a leap beyond all fears!
Having adored him, may I enter into the heart of the Blue_Necked One known as the Noble Adorable Avalokiteśvara. It means the completing of all meaning, it is pure, it is that which makes all beings victorious and cleanses the path of existence.
Thus:
Om, the seer, the World-Transcending One!
O Hari the Mahābodhisattva!
All, all!
Defilement, defilement!
The earth, the earth!
It is the heart!
Do, do the work!
Hold fast, hold fast!
O Great Victor!
Hold on, hold on!
I hold on!
To Indra the creator!
Move. move, my defilement-free seal!
Come, come!
Hear, hear!
A joy springs up in me!
Speak, speak! Directing!
Hulu, hulu, mala, hulu, hulu hile!
Sara, sara! siri, siri! suru, suru!
Be awakened, be awakened!
Have awakened, have awakened!
O Merciful One, Blue-Necked One!
Of daring ones, to the joyous, hail!
To the successful one, hail!
To the greate successful one, hail!
To the one who has attained mastery in the discipline, hail!
To the Blue-Necked One, hail!
To the Boar-Faced One, hail!
To the one with a lion’s head and face, hail!
To the one who holds a weapon in his hand, hail!
To the one who holds a wheel in his hand, hail!
To the one who holds a lotus in his hand, hail!
To the Blue-Necked far-causing one, hail!
To the benificient one referred to in this Dhāṇī beginning with “Namaḥ”, hail!
Adoration to the Triple Treasure!
Adoration to Avalokiteśvara!
Hail!
May these [prayers] be successful!
To this magical formula, hail!
            -------------------------
      Nhận xét của Lokesh Chandra về bản dịch của Suzuki:

    Suzuki đã dùng bản Phạn văn chú Đại Bi theo ký tự Siddham (bản T.1113b của Amoghavajra) cùng với phần phiên âm ra chữ Hán chú Đại Bi như là cơ sở cho bản dịch của ông. Tuy nhiên, bản Phạn văn đã có những chỗ sai lạc không thể nhân ra được ngữ nghĩa đích thực được, do đó bản dịch của Suzuki chứa nhiều chỗ sai. Sau đây xin trích một ít trong nhận xét của Lokesh Chandra . Chẳng hạn : trong bản Siddham đọc thành: “sarvarabhaye śudhana”  là cụm từ sai lạc, không thể nhận ra ngữ nghĩa được, khiến cho ngài Suzuki đành can đảm đoán và dịch thành :”To the one who performs a leap beyond all fears” (Đối với ngài đã nhảy vượt qua tất cả những sợ hãi). Nhưng câu được chỉnh đúng là :”sarva-bhayeṣu trāṇa-karāya”, tức là “[salution] to the one who protects from all fears” ([Xin chào] đối với ngài bảo vệ khỏi tất cả những sợ hãi). Hay “sarva  sarva”  được Suzuki dịch thành all, all (tất cả, tất cả), nhưng thật ra không phải là “sarva sarva” mà là “sarpa sarpa”  = hãy lướt xuống, hãy lướt xuống; “mala mala” được Suzuki dịch thành “Defilement, defilement” (sự làm nhiễm ô, sự làm nhiễm ô), nhưng thật ra là “smara smara” là “xin hãy nhớ, xin hãy nhớ”. “Dhiriṇi-rāya”  được dịch thành  “I hold on. To Indra the creator” . Nhưng thật sự  đó là “dhariṇī-rāja” , nghĩa là :”Vua của Địa cầu”. v.v…Như thế, theo Lokesh Chandra,  Suzuki không những diễn dịch sai nhiều từ, bỏ sót một số từ và bỏ mất cấu trúc gồm 5 phần của bài chú (40).
    Vì vậy, những vị nào y cứ vào bản dịch của ngài D.T.Suzuki mà giảng nghĩa Chú Đại Bi thì cũng sai, nên xin hãy nên cẩn trọng!

VI. Bản Chú Đại Bi Theo Chih-T ‘ Ung (Trí Thông)

Chih-T ‘ Ung đã dịch Nīlakaṇṭha 2 lần từ chữ Phạn ra chữ Hán trong khoảng thời gian 627-649 trước Tây lịch, đó là hai bản T. 1057a và T.1057b = Nj.318 trong Đại Chính Tân Tu Đại Tang Kinh. Rol-paḥi-rdo-rje và các phụ tá đã đối chiếu bản T.1057b với bản của Tây tạng để khôi phụ lại thành bản tiếng Phạn in trong bộ Sanskrit Texts from the Imperial Palace At Peking (Viết tắt là STP) với mã số STP. 5.1290-6.1304). Sau đây là STP.5.1290-6.1304 tức là Chú Đại Bi theo Chih-T ‘ Ung do Rol-paḥi-rdo-rje khôi phụ lại (41)
     Bản của Chih-T ‘ Ung dài hơn bản của Amoghavajra và ghi rõ câu kệ trong bài chú. Tuy nhiên bản này ít được biết so với các bản T1060 của Bhagavaddharma và bản T1113b của Amoghavajra.

                                   Namo ratnatrayāya
nama āryāvalokiteśvarāya bodhisattvāya mahāsattvāya mahākāruṇikāya |

      tadyathā --
     Oṃ sarva-bandhana-cchedanakarāya sarva-bhava-samudrocchoṣaṇa karāya sarva-vyādhi-praśamana karāya sarva-irtyupadra [va] – vināśanakarāya sarva-bhayottāraṇakarāya tasya namaskṛtvā irdo āryāvalokiteśvarāya tava nīlakaṇṭha nāma varam |
    hṛdayaṃ vartayiṣyāmi sarvārtha-sādhanaṃ śubham |
    ajeyaṃ sarva-bhūtānāṃ bhava-mārga-viśodhakam ||
    tadyathā --
    ālokādhipati  lokātikrānta ehi (nyl. krānte rā) hare mahābodhisattva, he mahābodhisattva, he priya bodhisattva, he kāruṇika, smara hṛdayam | ehi hara āryāvalokiteśvarāya | parama-maitro-citta kāruṇka kuru kuru karma |
sādhaya sādhaya vidyāṃ | dehi dehi me parara | gamaṃ gama vihhaṃgama siddha-yogīśvara | dhuru dhuru | vijayanti mahāvijayanti | dhara dhara dhāraṇīndreśvata (nyl. dharenadriśvara) | cala cala vimalamūrtte āryāvalokiteśvara jina kṛṣṇa-jaṭā-mukuṭa e (nyl. muluṭe) | alaṃkṛtaśarīra lamba pralamba vilamba mahāsiddhavidyādhara | bala bala mahābala | malla (nyl. mala) mallamalla (nyl. malamala) mahāmalla (nyl. mahāmala) cala cala mahācala | kṛṇa-varṇa kṛṇa-yakṣā kṛṇa-pāśa | nirgacchana | he padmahasta | cara cara niścareśvara | kṛṇa-sa [peṃ]- kṛta-yajñopavīta ehi he | mahāvarāhamukha tripura-dahaneśvara nārāyaṇa- bala-rū [pa] viṣadhara e (nyl. viṣadhari) | he nīlakaṇṭha edyehi mahā- halāhala-viṣa-nirjita lokasya rāga-viṣa-vināśana dveṣa-viṣa-vināśa  moha-viṣa-vināśana nimokṣāna hulu hulu | rāhulā rāhulā | hara-hera (nyl. halāhare)  mahāpadmanābha | sara sara siri siri suru suru | buddhya buddhya bodhaya bodhaya | bodhayāmi te nīlakaṇṭha | satyehi padma-sthita (nyl. pāma) narasiṃhamukha (nyl. macā) | hasa hasa | suñca muñca mahṭṭahāsyaṃ |  etyahi mo bho mahāsiddhayogīśvara | maṇa maṇa vāca | sādhaya sādhaya savidyān | smara smara tān | bhagavanta loka [o] palokā tān tathāgatānāṃ | dadāhi me darśanakāmara  [ya] darśanaṃ | praharāyamāṇa svāhā | siddhāya svāhā | siddhayogīśvarāya svāhā | nīlakaṇṭhāya svāhā | varāhamukhāy svāhā | mahāvarā [ha] mukhāya svāhā | narasiṃhamukhāya svāhā  | mahānarasiṃhamukhāya svāhā  | vajrahastāya svāhā  | mahāvajrahastāya svāhā | siddha-vidyādharāya svāhā | mahāsiddha-vidyādharāya svāhā | padmahastāya svāhā | mahāpadmahastāya svāhā | kṛṣṇa-sarpa-kṛta-yajñopavītāya svāhā | mahāmaṇi (nyl. mahāmāla) mukuṭadharāya svāhā | cakrāyudha [dha]rāya svāhā | śaṃkhaśavda nibodhanāya svāhā | vāma- [? ] kandha-deśa-sthita-kṛṣṇajināya svāhā | vāma-hasta-vyāghra carma-nivāsanāya svāhā | lokeśvarāya svāhā | mahālokeśvarāya svāhā | sarva-siddheśvarāra svāhā | rakṣa rakṣa māṃ svāhā |
       namo bhagavate āryāvalokiteśvarāya bodhisattvāya mahāsattvāya mahākāruṇikāya | sidhantu me mantrapadāni svāhā
                                --------------------------------

VII. Bản T.1113b của Amoghavajra được đưa vào Wikipedia (42).
     Bản T.1113b do Amoghavajra (
大廣智不空 : Đại Quảng Trí Bất Không hay Bất Không Kim Cương) đã ghi lai bằng ký tự Siddham trong khoảng thời gian 723-774 trong Hán Tạng ((大正新修大藏經 Taisho Edition T.1113b, 20.498-501 cf.1111-1113A). Trong bản T.1113b, Amoghavajra đã thay từ  Nīlakaṇṭha (Người có Cổ Xanh) bởi Narakidhi , một từ trong ngôn ngữ Uigur thuốc miền Trung Á, có nghĩa là Người Hiến Ái (Virtuous One). Trong bài chú T 1060 của Bhagavaddharma thì  phiên âm thành Na Ra Cẩn Trì (Narakindi) như đã thấy trong bản chú Đại Bi tiếng Việt. Trong Wikipedia, bản này được khôi phục lại tiếng Phạn, có thêm nghĩa tiếng Anh và chữ Hán. Phần tiếng Phạn có nhiểu chỗ không phù hợp với ngữ nghĩa. Phần giải thích bằng chữ Hán có nhiều chỗ không khớp với câu tiếng Phạn. Phần phiên âm và dịch phần chữ Hán ra tiếng Việt là của Giáo sư Tôn Thất Quỵ (Huế).
Mahā Karuna Dhāranī (大悲咒) (Đại bi chú)

      1. Initial Salutation (前行) (Tiền Hàng)

namaḥ ratna-trayāya namo āryā valokiteśvarāya1 bodhisattvāya mahā-sattvāya mahā-kāruṇikāya
(Adoration to the Three Gems, adoration to the noble Avalokiteśvarā, the enlightened sentient being, the great being, the merciful (one)!)
(
皈依 三寶,皈依 觀音,覺有情,大士,大悲心 ())
Qui y Bam Bảo, Qui y Thánh Quán Âm, Giác hữu tình, Đại Sĩ, Đại Bi Tâm (Giả!) = Qui y Tam Bảo , Qui yThánh Quán Âm, Người Đã Giác Ngộ, Bậc Đại Sĩ, Bậc  Đại Bi Tâm

     2. Name of Avalokite-śvarā (觀音名) Quán Âm Danh

oṃ sarva rabhaye sudhanadasya  namas-kṛtvā imaṃ āryā-valokite-śvara raṃdhava namo narakindhi hrīḥ
(Oneness with all saints (and their) righteous doctrine (righteous-joyous language). After the adoration to that noble(arya) Avalokiteśvarā of the Mercy (Fragrant) Land, I offer my respectful obeisances to the virtuous supreme lord)
(
皈依 一切 聖眾 () 正教(喜悅的正語)。頂禮 完畢 洛迦山 (慈悲地/香山) 之聖 觀音, 頂禮 () 賢善尊。)

(Qui y nhứt thiết Thánh Chúng (cập) Chính Giáo (Hỉ duyệt đích chính ngữ). Đảnh lễ hoàn tất bỉ Lạc Già Sơn (Từ Bi địa/ Hương Sơn) Chi Thánh Quán Âm, Đảnh lễ (bỉ) Hiền Thiện Tôn = Qui y tất cả thánh chúng ( và) Chính giáo (Ngôn ngữ chân thực của mọi nguồn vui). Đảnh lễ vị Thánh Quán Âm đã thành tựu rốt ráo, hiện trú Lạc Già Sơn (Đất TừBi/ Hương Sơn). Đảnh lễ Bậc Hiền Thiện Tôn (ấy)

     3. Śloka Enunication of the Merit of the Hrdaya-Dhāranī (功德迴向) (Công Đức Hồi Hướng) = Hồi hướng công đức

mahā vadhasame  sarva arthaduh śubhaṃ ajeyaṃ sarva sattva
((Who emits) great brilliance light, all sentient beings (sarva-satva) are without attachment (āthaduh) and in undefeatable(ajeyam) purity (śubhum) in all things.)
((
)大光明,()一切 眾生 一切 無比 無貪 淨。皈依 大樂有情,皈依 大樂童子 (他受)天人所親近。)

(Phóng) Đại quang minh, (linh) nhứt thiết chúng sanh tại nhứt thiết vô tỉ vô tham diệu tịnh. Qui y đại lạc hữu tình, qui y đại lạc đồng tử (tha thọ) thiên nhân sở thân cận) = (phóng) Đại quang minh, (khiến) tất cả chúng sanh đều được thanh tịnh do dứt hết mọi tham ái. Qui y Bậc Hữu Tình Hoan Hỉ vĩ đại . Qui y Bậc Đồng Tử Hoan Hỉ vĩ đại (ngài được nhận) các bậc thiên nhân thân cận.

namo vasattva namo vaga mavadudhu
Adoration to the joyful being, adoration to the joyful virgin who served by all heavenly beings;)
(
皈依 大樂有情,皈依 大樂童子 (他受)天人所親近。)

(Qui y đại lạc hữu tình, Qui y đại lạc đồng tử (tha thọ) thiên nhân sở thân cận = Qui y Bậc Hữu Tình Hoan Hỉ vĩ đại . Qui yBbặc Đồng Tử Hoan Hỉ vĩ đại (ngài được nhận) các bậc thiên nhân thân cận

      4. Dhāranī (咒文) (Chú văn) = câu văn của chú

tadyathā oṃ avaloki lokāte
(Like this: Oneness with/adoration to the seer (avalokite) of the world (loka) - (Avalokiteśvarā),)
(
咒曰:合一/皈依 觀世 ())

Chú viết: Hợp nhứt / Qui y Quán Thế (Giả) = Lời chú: Hợp nhứt/ Qui y Bậc Quán Thế

karāte e hrīḥ mahā-bodhisattva sarva sarva mālā mālā mahimā hṛdayam
(whose (ye) compassionate heart (hrdayam). The great sentient enlightened being; all, all, are garland (immaculate), garland (immaculate), great liberated heart)
((
)大悲 . 大覺有情 一切一切 () 花蔓 (清淨)花蔓 (清淨),大 自在心,)

(tha) Đại Bi Tâm. đai giác hữu tính nhứt thiết nhứt thiết (đích) hoa man (thanh tịnh) hoa man (thanh tịnh), Đại tự tại tâm = Ngài Đại Bi Tâm. Bậc Hữu Tình Giác Ngộ vĩ đại, tất cả tất cả tràng hoa (thanh tịnh) , tràng hoa (thanh tịnh) Bậc Tâm Tự Tại vĩ đại

kuru kuru karmaṃ dhuru dhuru vājayate mahā vājayate
(Accomplish, accomplish the task (karma). Liberate, liberate, the victorious one, the great victorious one.)
(
(),作() 義業。度脫,度脫,的勝者,大勝者。)

tác (thử), tác (thử)  nghĩa nghiệp. Độ thoát, độ thoát, đích thắng giả, đại thắng giả = xin ngài hãy làm, xinh ngài hãy làm nghĩa nghiệp (ấy). Xin ngài hãy cứu độ, xin ngài hãy cứu độ, Bậc Chiến Thắng, Bặc Đại Chiến Thắng 

dhara dhara dhṛṇi śvarāya cala cala mama vamāra muktele
(Hold on, hold on the brave freedom (īśvara). Lead, lead to my immaculate liberation)
((
) 能持,能持 勇猛 自在。() (變化),動(變化) 我所 離垢 脫。) =(tha) Năng trì, năng trì dũng mãnh tự tại. (linh) Động (biến hóa), động (biến hóa) ngã sở li cấu giải thoát =(Ngài) Kiên trì, kiên trì, dũng mãnh, tự tại  chuyển động (biến hóa), chuyển động (biến hóa) (khiến) cho con hết nhiễm ô, được giải thoát

ehi ehi śīṇa śīṇa ārṣam pracali vaśa-vaśaṃ praśaya
((Please) come, come; (fulfil) the pledge, the pledge; the admantine king of awakening (who) rules, rules the peace (prasada).)
(
順召,順召,弘誓,弘誓,法王,法王子 (覺身之子)()統治,統治 和平 [統治和平的法王,法王子 請來完我弘誓]) = Thuận chiêu, thuận chiêu, hoằng thệ, hoằng thệ, Pháp vương, Pháp vương tử (Giác thân chi tử), (tha) thống trị, thống trị, hòa bình (thống trị hòa bình đích pháp vương, Pháp vương tử chư lai hoàn ngã, hoằng thệ) = Xin ngài đến, xin ngài đến , thệ nguyện lớn, thệ nguyện lớn, Đấng Pháp Vương, Con của Đấng Pháp Vương (Con của Thân Giác Ngộ), ngài thống trị, thống trị, hòa bình ( Đấng Pháp Vương thống trị hòa bình, Con của Đấng Pháp Vương đến để thành tựu thệ nguyện lớn của con)

huru huru mārā huru huru hṛ sārā sārā śiri śiri suru suru
(Purify, purify personification of delusions; purify, purify the heart (hrdayam). Firm, firm; brave, brave; wonder form (being), wonder form (being).)
(
行,行無垢;行,行隨心。堅固,堅固;勇猛,勇猛;妙色,妙色。) = hành, hành vô cấu; hành, hành tùy tâm. Kiên cố, kiên cố; dũng mãnh, dũng mãnh; diệu sắc diệu sắc = Xin ngài làm, Xin ngài làm sạch hết cấu nhiễm; xin ngài làm. xin ngài làm tùy tâm. Kiên cố, kiên cố, dũng mãnh, dũng mãnh, diệu sắc, diệu sắc

bodhiya bodhiya bodhaya bodhaya maitreya narakindi
(Enlightenment, enlightenment, the enlightened one, the enlightened one. The benevolent, virtuous one,)
(
覺道(),覺道();覺者,覺者 [覺者 - 堅定 勇猛 妙者, 覺道了]。大慈 大賢()者,) = Giác đạo (bãi); Giác đạo (bãi); giác giả, giác giả (giác giả- kiên định dũng mãnh đích,  diệu giả, giác đạo liễu). Đại từ, Đại hiền (bi) giả = Đã giác ngộ đạo (rồi), đã giác ngộ đạo (rồi); Bậc Giác Ngộ, Bậc Giác Ngộ (giác : kiên định dũng mãnh,diệu :  giác đạo rốt ráo). Bậc Đại Từ, Đại Hiền (Bi)

dhṛṣṇina bhayamana svāhā siddhāya svāhā mahā-siddhāya svāhā siddhā-yoge śvarāya svāhā
(Success in power and fame, success in benevolence, success in great benevolence, success in achieving freedom (īśvara) through union (with dharma),)
((
) 堅利名聞 成就,義利 成就,大義利 成就,相應而得 自在 成就,) = (tha) kiên lợi danh văn thành tựu, nghĩa lợi thành tựu, đại nghĩa lợi thành tựu, tương ưng nhi đắc tự tại thành tựu = Bậc đã thành tựu kiên đinh lợi tha và vang danh, thành tựu nghĩa lợi, thành tựu đại nghĩa lợi, bậc đã thành tựu mọi tương ứng với chúng sanh mà vẫn tự tại

narakindi svāhā māraṇara svāhā śirā śaṃ āmukhāya svāhā sarva mahā-āsiddhāya svāhā
(Success in virtues, Success in immaculate joy, incomparable success in ultima convincing speech, incomparable success in all profound meaning)
(
賢愛 成就,無垢妙樂 成就,愛攝語 究竟無比 成就,一切 大義無比 成就) = Hiền ái thành tựu, vô cấu diệu lạc thành tựu, ái nhiếp ngữ cứu kính vô tỉ thành tựu, nhứt thiết đại nghĩa vô tỉ thành tựu = Bậc đã thành tựu đức hiền ái, bậc đã thành tựu hoan hỉ không cấu nhiễm, bậc đã thành tựu ái ngữ rốt ráo không gì bằng, bậc đã thành tựu ý nghĩa lớn không gì bằng

cakra āsiddhāya svāhā padma kastāya svāhā
(Incomparable success in (turning) the wheel, success in the red lotus (immaculate) deed,)
((
)法輪 無比 成就,紅蓮 ( ) 義業 成就,)= (chuyển) pháp luân vô tỉ thành tựu, hồng liên (diệu tịnh) nghĩa nghiệp thành tựu = Đã thành tựu (việc chuyển) pháp luân không gì bằng, đã thành tựu  sự nghiệp hoa sen đỏ (vô cùng thanh tịnh)

narakindi vagarāya svāhā mavari śaṅkharāya svāhā
(Success in (becoming a) virtuous Bhagavan (blessed one), success in own prestige nature.)
(
賢愛 成就,()威德 自性 成就。) = Hiền ái tôn thành tựu, (cụ) uy đức tự tại thành tựu, = Bậc thành tựu hiền ái tôn quí, Bậc thành tựu (gồm đủ mọi) uy đức tự tại.

       5. Final Salutation (結分) = Kết phần (phần kết)

namaḥ ratna-trayāya namo āryā valokiteśvarāya svāhā
(Refuge in the Triple Gem, take refuge in the success of noble Avalokite (look upon) śvarā (sound)
(
皈依 三寶,皈依 觀音 ()圓滿。) = Qui y Tam Bảo, qui y Thánh Quán Âm (chi) viên mãn = Qui y Tam Bảo, qui y sự thành tựu viên mãn của Thánh Quán Âm

oṃ siddhyantu mantra padāya svāhā
(Oneness (om) with the success (svaha) of achieving (sidhyantu) these invocation (mantra) verses (pada)!
((
天人)合一 令成就 咒句 圓滿 [()圓滿 成就()真言句] ) = (Thiên nhân) hợp nhất linh thành tựu chú cú viên mãn (linh (ngã) viên mãn thành tựu (thử) chân ngôn cú) = (Trời người) hợp nhứt khiến cho các câu chú này được thành tựu viên mãn (khiến cho con thành tựu viên mãn bài chú này)

                                  -------------------------------------------

VIII. Bản T.1113b của Amoghavajra trong CBETA (Chinese Buddhist Electronic Text Association) (43).
   
Phần chữ Phạn có nhiều chỗ không phù hợp với ngữ nghĩa.   
   Nên lưu ý là phần chữ Hán ở đây không phải như phần chữ Hán trong T.1113b được đưa lên Wikipedia nói nêu ra ở mục VII. trên đây. Ở mục VII. thì phần chữ Hán là giải nghĩa từng câu của bài chú. Ở đây, phần chữ Hán lại nêu ra cái dụng của bài chú và phương tiện của cái dụng ứng với từng câu chú. Tuy nhiên, mỗi câu chú thì người ghi chú lại nêu ra tên của một vị Bồ tát thì chúng tôi cho là không đúng theo ngữ nghĩa của câu tiếng Phạn tương ứng. Một thí dụ điển hình là trong các vị Bồ tát được nêu tên ra có Mã Minh và Long Thọ, hai vị này xuất hiện trong lịch sử ở thế kỷ 1-2 sau Tây lịch, tức là sau khi Đức Phật Thích Ca Mâu Ni nhập diệt khoảng 500-600 năm. Thế nhưng theo kinh Tâm Đại Bi (Thiên Thủ Thiên Nhãn Quán Thế Âm Bồ Tát Quảng Đại Viên Mãn Vô Ngại Đại Bi Tâm Đà Ra Ni Kinh) thì Chú Đại Bi được Thiên Quang Vương Tịnh Trụ Như Lai nói cho Bồ Tát Quán Tự Tại vào một thời ở quá khứ rất xa (nhiều a tăng kỳ tiếp) và Chú Đại Bi được Bồ Tát Quán Tự Tại nói ra trong một pháp hội tại Potala với sự chủ trì của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni. Vậy thì làm gì có chuyện tên các Bồ Tát Mã Minh, Long Thọ có trong Chú Đại Bi! Có lẽ căn cứ vào sự diễn dịch sai này mà ở Hồng Kông xuất hiện quyển sách
Đại Bi Kinh Giảng Giải, trong đó nêu tên các vị Bồ Tát ứng với các câu của bài chú, và một số vị sư ở nước ta cũng theo đó mà giảng “Chú Đại Bi Xuất Tượng”, mỗi câu ứng với ảnh tượng của một Bồ tát! Chúng tôi cho rằng đây là một sai lầm khi so với ý nghĩa của của từng câu tiếng Phạn trong Chú Đại Bi. Trong Chú Đại chỉ có một Bồ Tát, đó lài ngài “Cổ Xanh” (Thanh Cảnh), một danh hiệu của Bồ tát Quán Thự Tại. Chính Hòa thượng Tuyên Hóa cũng nói trong sách Đại Bi Chú Giảng Giải (nhà xuất bản Tôn Giáo, năm 2006): “Chẳng hạn có một vị Pháp sư khác giảng giải mỗi thủ nhãn này là danh hiệu của một vị Bồ tát. Chẳng hạn vị ấy cho rằng: Chưởng thượng hóa Phật thủ nhãn này là Chưởng thượng hóa Phật Bồ tát. Đây chính là trường hợp sai một ly đi một dặm. Sao vậy? Ở đây hoàn toàn chẳng có một vị Bồ tát nào cả. (tr. 139). …”
 
Phần phiên âm và dịch chữ Hán ra tiếng Việt là của Giáo sư Tôn thất Quỵ (Huế).   

       大慈大悲救苦觀世音自在王菩薩廣大圓滿無礙自在青頸大悲心陀羅尼

Đại Từ Đại Bi Cứu Khổ Quán Thế Âm Tự Tại Vương Bồ Tát Quảng Đại Viên Mãn Vô Ngại Tự Tại Thanh Cảnh Đại Bi Tâm Đà La Ni

                     大廣智不空譯
           Quảng Đại Trí Bất Không Dịch  
南無歸命頂禮南方海上蒲陀落淨土。
Nam mô qui mạng đảnh lễ Nam Phương Hải Thượng Bồ Đà Lạc Tịnh Độ
正法教主釋迦牟尼如來。觀音本師無量壽如來。
Chánh pháp Giáo chủ Thích Ca Mâu Ni Như Lai. Quán Âm Bổn Sư Vô Lượng Thọ Như Lai
觀音本正法明如來。
Quán Âm Bổn Chánh Pháp Minh Như Lai
南無千手千眼觀世音菩薩廣大圓滿無礙大悲心大陀羅尼。
Nam mô Thiên Thủ Thiên Nhãn Quán Thế Âm Bồ Tát Quảng Đại Viên Mãn Vô Ngại Đại Bi Tâm Đại Đà La Ni
救苦陀羅尼。延壽陀羅尼。加滅惡趣陀羅尼。
C
ứu Khổ Đà La Ni. Diên Thọ Đà La Ni. Gia Diệt Ác Thú Đà La Ni
破業障陀羅尼滿願陀羅尼。隨心自在陀羅尼。
Phá Nghiệp Chướng Đà La Ni. Mãn Nguyện Đà La Ni. Tùy Tâm Tự Tại Đà La Ni
速超上地陀羅尼。
Tốc Siêu Thượng Địa Đà La Ni
一聞神咒超第八地陀羅尼。四百四病一時消滅陀羅尼。
Nh
ứt Văn Thần Chú Siêu Đệ Bát Địa Đà La Ni. Tứ Bách Tứ Bệnh Nhứt Thời Tiêu Diệt Đà La Ni
Một lần nghe Thần chú này sẽ vượt lên Địa Thứ Tám. Thần chú này sẽ tiêu diệt tức khắc 404 bệnh
na mo ra tna tra yaa ya
南 無喝 羅 怛那 哆羅 夜 [*]()
Nam Mô  Hắt Ra  Đát Na Đá Ra Dạ Da (câu 1)
此觀世音菩薩本身。
Th
ử Quán Thế Âm Bồ Tát Bổn Thân
Đây là bổn thân của Bồ Tát Quán Thế Âm
大須慈悲思勿高聲此神性忽。
Đại Từ Đại Bi Tư, Vật Cao Thanh Thử Thần Tánh Hốt
Nên nghĩ đến từ bi, đừng đọc to làm thần tánh hoảng hốt
na mo aa ryaa
南 無 阿 唎[*]()
Nam mô  a rị da (câu 2)
是如意輪菩薩本身。到此誦在心。
Thị “Như Ý Luân Bồ Tát Bổn Thân”. Đáo Thử Tụng Tại Tâm
Đây là bổn thân của Bồ Tát Như Ý Luân. Đến đây tụng trong tâm
va lo ki te `sva raa ya
婆 盧 羯 帝 爍缽 囉 [*]()
Bà Lô Yết Đế Thước Bát Ra Da (câu 3)
此是轉缽觀音。昔誦此理轉菩薩。
Th
ử thị “ Chuyển Bát Quán Âm “. Tích tụng thử Lý Chuyển Bồ Tát
Đây là Chuyển Bát Quán Âm. Ngày trước đọc câu này là “Bồ Tát Lý Chuyển”
bo dhi sa tvaa ya
菩 提 薩 哆婆 [*]()
Bồ Đề Tát Đỏa Bà Da (câu 4)
此不空罥索菩薩。降押天兵眾。
Th
ử “Bất Không Quyến Sách Bồ Tát”. Giáng Áp Thiên Binh Chúng
Đây là Bồ Tát Bất Không Quyến Sách. Xuống nắm giữ chúng thiên binh
ma haa sa tvaa ya
摩 訶 薩 埵婆 [*]()
Ma Ha Tát Đỏa Bà Da (câu 5)
是菩薩種子之因。誦咒本身。
Th
Bồ Tát chủng tử” chi nhân. Tụng chú bổn thân
Đây là nhân của Chủng Từ Bồ Tát. Đây là bổn thân của sự tụng chú
ma haa kaa ru .ni kaa ya
摩 訶 迦 嚧 昵 迦 [*]()
Ma Ha Ca Lô Ni Ca Da (câu 6)
是馬鳴菩薩本身。手把拔折羅印菩薩自身。
Thị “Mã Minh Bồ Tát Bổn Thân”.Thủ bả Bạt Chiếc La Ấn Bồ Tát Tự Thân
Đây là bổn thân của Bồ Tát Mã Minh. Tự thân Bồ Tát tay cầm ấn Bạt Chiếc La (Ấn kim cương)
o.m
() Án (câu 7)
此是神唵語。悉合掌聽誦咒曰。
Th
ử thị Thần Án ngữ. Tất hợp chưởng thính tụng chú viết
Đây là chữ Án linh thiêng. Tất cả chắp tay nghe tụng câu chú
sa rva ra bha ye
薩 皤 囉 罰 曳()
Tát Bát Ra Phạt Dệ (câu 8)
此是四天大王本身。降伏魔王。
Th
thị “Tứ Thiên Đại Vương” bổn thân. Hàng phục Ma Vương
Đây là bổn thân của Tứ Đại Thiên Vương. Hàng phục Ma Vương.

`su dha na da sya 
數 怛 那 怛 寫()
Số Đát Na Đát Tả (câu 9)
此是四天大王八部鬼神名字。
Th
ử thị Tứ Thiên Đại Vương Bát Bộ Quỉ Thần Danh Tự
Đây là tên của Bát Bộ Quỉ Thần của Tứ Đại Thiên Vương
na mo sk.r ta ii mo a ryaa
南 無 悉吉[*] 埵 伊 蒙 阿 唎耶()
Nam Mô Tất Kiết Lật Đỏa Y Mông A Rị Da (câu 10)
此是龍樹菩薩本身。
Th
ử thị Long Thọ Bồ Tát Bổn Thân
Đây là bổn thân của Bồ Tát Long Thọ.
須用心誦勿令疏步菩薩性勿也。
Tu dụng tâm tụng, vật linh sơ. Bồ Tát tánh vật dã
Nên dụng tâm mà tụng, đừng có lơ đễnh. Tánh Bồ Tát sẽ mất đi
ba ru ki te `sva ra.m dha va
婆 嚧 吉 帝 室佛 楞 馱 婆(十一)
Bà Lô Kiết Đế Thất Phật (Ra hay La, ) Lăng Đà Bà (câu 11)
此是本師毘盧遮那佛本身。
Th
ử thị “Bổn Sư Tì Lô Giá Na Phật” bổn thân
Đây là bổn thân của Phật Bổn Sư Tì Lô Giá Na
廣大圓滿不可思議功德。
Quảng Đại Viên Mãn Bất Khả Tư Nghị Công Đức
Công đức rộng lớn tròn đầy không thể nghĩ bàn
na mo na ra ki dhi
南 無 那 囉 謹 墀(十二)
Nom Mô Na Ra Cẩn Trì (câu 12)
此是清淨圓滿報身盧舍那佛本身。
Th
thị “Thanh Tịnh Viên Mãn Báo Thân Lô Xá Na Phật” bổn thân
Đây là bổn thân của Báo Thân Thanh Tịnh Viên Mãn Phật Lô Xá Na
須用心勿令放逸。
Tu dụng tâm vật linh phóng dật
Nên dụng tâm đừng để phóng dật
he ri ma va dha .sa me
醯 利 摩 皤 哆 沙 咩(十三)
Hê Rị Ma Bàn Đà Sa Mê (câu 13)
此是半頭神王。菊大魔以為眷屬。
Th
ử thị “ Bán Đầu Thần Vương”. Cúc Đại Ma dĩ vi quyến thuộc
Đây là Bán Đầu Thần Vương. Cúc Đại Ma lấy làm quyến thuộc
sa rva a thaa du `su tu.m
薩 婆 阿 陀 頭 輸 朋(十四)
Tát Bà A Tha Đậu Du Bằng (câu 14)
此是甘露菩薩亦是觀世音菩薩部落。
Th
ử thị “Cam Lộ Bồ Tát” diệc thị “Quan Thế Âm Bồ Tát” bộ lạc
Đây là bộ lạc của “Bồ Tát Cam Lộ” cũng là bộ lạc của “Bồ Tát Quan Thế Âm”
以為眷屬。
Dĩ vi quy
ến thuộc
lấy làm quyến thuộc
a je ya.m
阿 遊 孕(十五)
A Thệ Dựng (câu 15)
此是飛騰夜叉大王。巡歷四方察其是非。
Th
ử thị “Phi Đằng Dạ Xoa Đại Vương”. Tuần lịch tứ phương sát kỳ thị phi
Đây là Đại Vương Dạ Xoa Phi Đằng. Đi tuần khắp bốn phương kiểm soát chuyện đúng sai
sa rva bhu ta na ma va ga
薩 婆 菩 哆 那 摩 縛 伽(十六)
Tát Bà Bồ Đa Na Ma Phạt Già (câu 16)
此是婆帝王其形黑大。大以豹皮為衣。
Th
ử thị”Bà Đế Vương” kỳ hình hắc đại. Đại dĩ báo bì vi y
Đây là Bà Đế Vương, có hình đen, lớn, lấy da báo làm áo 
神手把衣叉。
Thần thủ bả y xoa
Tay Thần cầm “Y Xoa”
ma va du du
摩 罰 特 豆(十七)
Ma Phạt Đặc Đậu (câu 17)
此是剎利菩薩本身。
Th
ử thị “Sát Lợi Bồ Tát” bổn thân
Đây là bổn thân của Bồ Tát Sát Lợi
鐵輪手把夜叉素有三眼是也。
Thi
ết luân thủ bả dạ xoa tố hữu tam nhãn thị dã
Bánh xe sắt, tay cầm Dạ Xoa vốn có ba mắt

ta dya thaa o.m
怛 姪 他(十八) 唵
Đát Điệt Tha (câu 18)- Án
此是劍語。
Th
ử thị kiếm ngữ
Đây là lời kiếm

a va lo ka lo ka te
阿 波 盧 醯 盧 迦 帝(十九)
A Bà Lô Hê Lô Ca Đế (câu 19)
此是梵天王本身說佛為部。
Th
ử thị “Phạm Thiên Vương” bổn thân thuyết Phật vi bộ
Đây là bổn thân của Phạm Thiên Vương, thuyết giảng Phật Vi Bộ
ka ra te
迦 羅 帝(二十)
Ca Ra Đế (câu 20)
此是立門五神。長大黑色。
Th
ử thị lập môn ngũ thần. Thị đại hắc sắc
Đây là Năm Thần Giữ Cửa. Đều có sắc đen
e h.re
夷 醯唎(二十一)
Di Hê Rị (câu 21)
此是三十三天王。是摩醯首羅天王神領天兵。
Th
ử thị Tam Thập Tam Thiên Vương. Thị Ma Hê Thủ La thiên vương thần lãnh thiên binh
Đây là Thiên Vương của Tầng Trời Ba Mươi Ba. Đó là Thiên vương Ma Hê Thủ La thống lãnh thiên binh
ma haa bo dhi sa tva
摩 訶 菩 薩 埵(二十二)
Ma Ha Bồ Đề Tát Đỏa (câu 22)
此是寶心更無雜亂心節名薩埵。
Th
ử thị bảo tâm cánh vô tạp loạn tâm tiết danh tát đỏa
Đây là Bảo Tâm không còn tạp loạn tâm có tên gọn là Tát Đỏa.
sa rva sa rva
薩 婆 薩婆(二十三)
Tát Bà Tát Bà (câu 23)
此是香積菩薩。
Th
ử thị Hương Tích Bồ Tát
Đây là Bồ Tát Hương Tích

押五方兵薩婆為侍從不可思議。
Áp ngũ ph
ương binh, tát bà vi thị tòng bất khả tư nghị
Dẫn ngũ phương binh, Tát Bà là các vị tòng thuộc không thể nghĩ bàn

ma la ma la ma ma h.re da ya.m
摩 羅 摩羅 摩 摩 醯唎 馱 孕(二十四)(同上)
Ma Ra Ma Ra Ma (Hê) Ma  Hê Rị Đà Dựng (câu 24) (Đồng Thượng)
ku
 ru ku ru ka rma.m
俱 嚧 俱嚧 羯 蒙(二十五)
Cu Lô Cu Lô Yết Mông (câu 25)
此是空身菩薩。押夫將軍領二萬億天兵忽。
Th
ử thị “Không Thân Bồ Tát”. Áp phu tướng quân lãnh nhị vạn ức thiên binh hốt
Đây là Bồ Tát Không Thân. Dẫn Phu Tướng Quân lãnh hai vạn ức thiên binh gấp
dhu ru dhu ru va ja ya te
度 嚧 度嚧 罰 闍 耶 帝(二十六)
Độ Lô Độ Lô Phạt Xà Da Đế (câu 26)
此是嚴峻菩薩。孔雀王兵。
Th
ử thị “ Nghiêm Tuấn Bồ Tát”. Khổng tước vương binh.
Đây là Bồ Tát Nghiêm Tuấn. Khổng Tước Vương Binh
ma ha va ja ya te
摩 訶 罰 闍 耶 帝(二十七)(同上)
Ma Ha Phạt Xà Da Đế (câu 27) (Đồng thượng)
dha
 ra dha ra
陀 羅 陀羅(二十八)
Đà La Đà La (câu 28)
此是觀世音菩薩。大手把金輪。
Th
ử thị Quán Thế Âm Bồ Tát. Đại thủ bả kim luân
Đây là Bồ Tát Quán Thế Âm. Tay cầm kim luân (bánh xe vàng)
dhi ri .ni
地 利 尼(二十九)
Địa Rị Ni (câu 29)
此是師子王。兵驗不調。
Th
ử thị “Sư Tử Vương”. Binh hiểm bất điều
Đây là Vua Sư Tử. Binh nguy hiểm không thể điều phục
raa ya
囉 耶(三十)
(Thất Phật) Ra Dạ (câu 30)
是霹靂降伏魔眷屬。
Thị tích lịch hàng phục ma quyến thuộc
Đây là sấm chớp hàng phục quyến thuộc của ma
ca la ca la
遮 囉 遮 囉(三十一)
Giá Ra Giá Ra (câu 31)
此是摧碎菩薩。本身手把金輪。
Th
ử thị Tồi Toái Bồ Tát bổn thân. Thủ bả kim luân
Đây là bổn thân của Bồ Tát Tồi Toái (phá nát). Tay cầm bánh xe vàng (kim luân)
ma ma
摩 摩(弟子某甲受持)
Mạ mạ (đệ tử mỗ giáp thọ trì)
(giải thích từ ngữ “của tôi” là mama trong triếng Phạn)
va
 ma ra
罰 摩 羅(三十二)
Phạt Ma Ra (câu 32)
此是大降魔金剛本身。手把金輪。
Th
ử thị Đại Hàng Ma Kim Cương” bổn thân. Thủ bả kim luân
Đây là bổn thân của Đại Hàng Ma Kim Cương. Tay cầm kim luân
su kte le
穆 帝 曬(三十三)
Mục Đế Lệ (câu 33)
此是佛合掌。
Th
ử thị Phật hợp chưởng
Đây là Phật chắp tay

聽誦千手千眼觀世音菩薩善神妙章句。
Thính tụng thiên thủ thiên nhãn Quán Thế Âm Bồ Tát thần diệu chương cú.
Nghe tụng bài chú thần diệu Thiên Thủ Thiên Nhãn Bồ Tát Quán Thế Âm.
e he e he
伊 醯 移 醯(三十四)
Y Hê Di Hê (câu 34)
此是喚摩醯首羅天。
Th
ử thị hoán Ma Hê Thủ La Thiên
Đây là kêu gọi
Ma Hê Thủ La Thiên đến
ci nda ci nda
室 那 室那(三十五)(同上)
Thất Na Thất Na (câu 35)(đồng thượng)
a
 r.sa.m pra ca li
阿 羅參 佛羅 舍 利(三十六)
A Ra Sâm Phật Ra Xá Rị (câu 36)
此是觀世音菩薩。手把軍弓箭。
Th
ử thị Quán Thế Âm Bồ Tát. Thủ b quân cung tiẽn
Đây là Bồ Tát Quán Thế Âm.
Tay cầm cung tên quân đội
va .sa va .sa.m pra `sa ya
罰 沙 罰 參 佛羅 舍 耶(三十七)
Phạt Sa Phạt Sâm Phật Ra Xá Da (câu 37)
此是阿彌陀佛本身。觀音菩薩師主。
Th
ử thị A Di Đà Phật bổn thân. Quán Âm Bồ Tát Sư Chủ
Đây là bổn thân của Phật A Di Đà. Tức là thầy của Bồ Tát Quán Âm
hu ru hu ru ma ra
呼 嚧 呼嚧 麼 囉(三十八)
Hô Lô Hô Lô Ma Ra (câu 38)
此是呼八部鬼神。
Th
ử thị hô bát bộ quĩ thần
Đây là kêu gọi Bát Bộ Quỹ Thần (Thiên Long Bát Bộ)
hu ru hu ru hri
呼 嚧 呼嚧 醯唎(三十九)(同上)
Lô Lô Hô Lô Hê Ri (câu 39)(Đồng thượng)
sa
 ra sa ra
沙 囉 沙囉(四十)
Ta Ra Ta Ra (câu 40)
此是五濁惡世云。
Th
thị ngũ trọc ác thế vân
đây là Ngũ Trọc Ác Thế
si ri si ri su ru su ru
悉 唎 悉唎(四十一) 蘇 嚧 蘇嚧(四十二)
Tất Rị Tất Rị (câu 41) Tô Rô Tô Rô (câu 42)
此是諸佛樹樂木聲也。
Th
ử thị Chư Phật thọ lạc mộc thanh dã
Đây là tiếng gỗ vui của các cây của Phật
bo dhi ya bo dhi ya
菩 提 [*] 菩提[*](四十三)
Bồ Đề Dạ Bồ Đề Dạ (câu 43)
此是觀世音豫眾生罪惡。
Th
ử thị Quán Thế Âm dự chúng sanh tội ác
Đây là Quán Thế Âm xét đoán
tội ác của chúng sanh
bo dha ya bo dha ya
菩 提 耶 菩提耶(四十四)
Bồ Đà Dạ Bồ Đà Dạ (câu 44)
此是阿難本身也。
Th
ử thị A Nan bổn thân
Đây là bổn thân của A Nan
mai tri ya
彌 帝唎 耶(四十五)
Di Đế Rị Da (câu 45)
此是本車菩薩手把金刀。
Th
ử thị “Bổn Xa Bồ Tát”. Thủ bả kim đao
Đây là Bồ Tát Bổn Xa. Tay cầm đao vàng
na ra ki ndi
那 囉 謹 墀(四十六)
Na Ra Cẩn Trì (câu 46)
此是龍樹菩薩。手把金刀之長。
Th
ử thị Long Th Bồ Tát. Thủ bả kim đao chi trường
Đây là Bồ Tát Long Thọ. Tay cầm đao vàng dài
dha r.si .ni na pa ya ma na
他 唎瑟 尼 那 波 夜 摩 那(四十七)
Địa () Rị  Sắt Ni Na Ba Dạ Ma Na (câu 47)
此是金光幢菩薩。手把跋折羅杵。
Th
ử thị “Kim Quang Tràng Bồ Tát”. Thủ bả bạt chiêt la chữ
Đây là Bồ Tát Kim Quang Tràng. Tay cầm chày kim cương
svaa haa si ddhaa ya
娑婆 訶(四十八)(同上) 悉 陀 夜(四十九)
Sa Bà Ha (câu 48)(Đồng thượng). Tất Đà Dạ (câu 49)
此是達一切法門。
Th
ử thị đạt nhứt thiết pháp môn
Đây là
thông suốt được tất cả pháp môn
svaa haa ma haa si ddhaa ya svaa haa
娑婆 訶(五十法語) 摩 訶 悉 陀 夜 娑婆 訶
Sa Bà Ha (ngũ thập pháp ngữ; câu 50)Ma Ha Tất Đà Dạ Sa Bà Ha (câu 51)
此是施光幢菩薩手把幡。
Th
ử thị “Thí Quang Tràng Bồ Tát”. Thủ bả tràng
Đây là Bồ Tát Thí Quang Tràng. Tay cầm cờ lọng
si ddhaa yo ge
悉 陀 喻 藝(五十二)
Tất Đà Du Nghệ (câu 52)
此是天大菩薩悉手來把刀或菩薩手把水碗。
Th
ử thị Thiên Đại Bồ Tát, tất thủ lai b đao hoặc Bồ Tát thủ b thủy uyển
Đ
ây là Bồ Tát Thiên Đại, đến tay cầm đao hoặc Bồ Tát tay cầm chén nước
sva ka ra ya svaa haa
室皤 伽 羅 耶 娑婆 訶(五十三)
Thất Bàn Già (Ra, ) Dạ Sa Bà Ha (câu 53)
此是名安悉香。
Th
ử thị danh “An Tất” hương
Đây là tên hương thơm xứ An Tất
na ra ki ndi svaa haa ma ra na ra
那 囉 謹 墀(五十五)(同上) 娑婆 訶(五十六) 摩 囉 那囉(五十七)
Na Ra Cẩn Trì (câu 55)(đồng thượng) Sa Bà Ha (câu 56) Ma Ra Na Ra (câu 57)
此是散水菩薩手把水碗。
Th
ử thị “Tán Thủy Bồ Tát” thủ bả thủy uyển
Đây là Bồ Tát Tán Thủy, tay cầm chén nước
svaa haa si ra sa.m aa mu khaa ya
娑婆 訶(五十八)(同上) 悉 囉 僧 阿 穆 佉 耶(五十九)
Sa Bà Ha (câu 58)(đồng thượng) Tất Ra Tăng A Mục Khê Da (câu 59)
此是山海惠菩薩手把金鉤。
Th
ử thị “Sơn Hải Huệ Bồ Tát”, thủ bả kim câu
Đây là Bồ Tát Sơn Hải Huệ, tay cầm móc câu vàng
svaa haa pa ma haa si ddhaa ya
娑婆 訶(六十)(同上) 婆 摩 訶 悉 陀 夜(六十一)(同上)
Sa Bà Ha (câu 60) (đồng thượng) (Ta) Bà Ma Ha Tất Đà Dạ (câu 61) (đồng thượng)
svaa
 haa ca kraa si ddhaa ya
娑婆 訶(六十二)(同上) 者 吉囉阿 悉 陀 夜(六十三)
Sa Bà Ha (câu 62) (đồng thượng) Giả Kiết Ra A Tất Đà Dạ (câu 63)
此是藥王菩薩本身行魔。
Th
ử thị “Dược Vương Bồ Tát” bổn thân hàng ma
Đây là bổn thân của Bồ Tát Dược Vương hàng phục ma
svaa haa
娑婆 訶(六十四)(同上)
Sa Bà Ha (câu 64) (đồng thượng)
pa
 dma ka sta ya
婆 摩 羯 悉哆 夜(六十五)
Ba (Đà,
) Ma Kiết (hay Yết) Tất Đà Dạ (câu 65)
是藥上菩薩本身行魔痛。
Thị Dược Vương Bồ Tát bổn thân hàng ma thống
Tức là bổn thân của Bồ Tát Dược Vương, trị được những nỗi đau do ma gây ra
svaa haa
娑婆 訶(六十六)(同上)
Sa Bà Ha (câu 66) (đồng thượng)
na
 ra ki ndi va ga ra ya svaa haa
那 羅 謹 墀 皤 迦 羅 夜(六十七)(同上) 娑婆訶
Na Ra Cẩn Trì Bàn Già Ra Dạ (câu 67)(đồng thượng) Sa Bà Ha (câu 68)
 
ma va ri `sa ^nka ya svaa haa
摩 婆 唎 勝 羯 夜(六十九)(同上) 娑婆 訶(七十)
Ma Bà Rị Thắng Yết (Ra,
) Dạ (câu 69) (đồng thượng) Sa Bà Ha (câu 70)
na
 mo ra tna tra yaa ya
南 無喝 囉 怛那 多囉 夜 耶(七十一)
Nam Mô  Hắt Ra Đát Na Đa Ra Dạ Da (câu 71)
na
 mo aa ryaa va ro ki te `sva ra ya
南 無 阿 唎耶(七十二) 婆 嚧 吉 帝(七十三) 爍皤囉 耶(七十四)
Nam Mô A Rị Da (câu 72) Bà Lô Kiết Đế (câu 73)Thước Bàn Ra Da (câu 74)
bo dhi svaa haa
菩 提 娑婆 呵
Bồ Đề Sa Bà Ha

青頸觀音陀羅尼一卷
Thanh Cảnh Quán Âm Đà La Ni Nhứt Quyển
Một quyển Thần chú Thanh Cảnh Quán Âm

         青頸大悲心印
Thanh Cảnh Đại Bi Tâm Ấn
Tâm Ấn Của Thanh Cảnh Đại Bi

   
虛心合掌屈二頭指。
H
ư tâm hợp chưởng khuất nhị đầu chỉ
Tâm rỗng chắp hai bàn tay co hai ngón tay trỏ

各拘二大指第二節(是法螺也)二中指豎合(是蓮花也)二無名指豎圓端(是輪也)二小指直豎合(是杖也)於一印具四印。
Các cậu nhị “đại chỉ” đệ nhị tiết (thị pháp loa dã), nhị “trung chỉ” thụ hợp (thị liên hoa dã), nhị “vô danh chỉ” thụ viên đoan (thị luân dã) nhị “tiểu chỉ” trực thụ hợp (thị trượng dã) ư nhứt ấn cụ tứ ấn

Mỗi người móc đốt thứ hai của hai ngón cái (tức là Ấn Pháp Loa (Ốc Tù Và)), hai ngón giữa dựng đứng hợp lại (tức là Ấn Hoa Sen), hai ngón tay đeo nhẫn dựng dựng lên đầu tròn(tức là Ấn Bánh Xe), hai ngón tay út dựng đứng hợp lại (tức là Ấn Trượng), từ một Ấn đủ cả bốn Ấn
                    
謂法螺蓮華輪杖也
Vị pháp loa liên hoa luân trượng dã
Chính là các Ấn Pháp Loa, Liên Hoa,  Luân, Trượng vậy
                                             -----------------------

       IX Bản T1111 của Amoghavajra. Bản T1113b bằng ký tự Siddham thì Amoghavajra dựa vào bản T1060 của Bhagavaddharma nhưng có thêm vào một số lời bình và chỉ dẫn nghi thức tụng niệm. Bản T1111 của Amoghavajra là bản phiên âm ra chữ Hán, mới và khác nhiều so với bản T1060 của Bhagavaddharma, chẳng hạn namo được phiên âm thành “Nẵng mô”; svāhā được phiên âm thành BÀ PHẠ HẠ còn trong T1060 là NAM MÔ và TA BÀ HA. Trong bản này, Amoghavajra có ghi chú cách đọc các âm như kéo dài (dẫn), đọc nối liền hai âm (nhị hợp) ứng với một âm trong tiếng Phạn, các thanh điệu (bình, thượng, khứ, nhập). Tuy phần phiên âm bài chú thì rất khác và không được phổ biến rộng như bản T 1060 của Bhagavaddharma , nhưng chúng tôi nghĩ  có giá trị lớn là các ghi chú về ý nghĩa của một số chỗ, và sau cùng là chỉ ra cách vẽ hình ảnh của ngài Nīlakaṇṭha cũng góp phần làm hiểu ý nghĩa một số câu của bài chú.
       Chẳng hạn, chính nhờ ghi chú về con rắn màu đen “hắc xà tác thằng tuyến”, “hắc xà tác thần tuyến phước đức” của Amogjavajra như C.N. Tay đã lưu ý mà Lokesh Chandra đã khôi phục lại câu “ kṛṣna sarpa upavīta” thay cho câu mà ngữ nghĩa không thể hiểu được là “chinda chinda arsam pracali”, hay “cinda cinda…” hay “śina śina ….” .
      Vì giá trị  của các ghi chú ấy, chúng tôi ghi lại bản phiên âm Hán Việt của bài chú và phần dịch Hán-Việt của các ghi chú của Amoghavajra để độc giả tiện tham khảo.
     Nguyên văn bản T1111 bằng chữ Hán của Amoghavajra là như sau (44) :
     

                             
                                       

                                        
                                              

                                             
                                        

                                     
                              

                                        
                                            

               Bản phiên âm Hán Việt của bài chú và phần dịch ra tiếng Việt các chú giải của Amoghavajra sau đây là của Giáo sư Tôn Thất Quỵ (Huế). Chúng tôi cũng chân thành cảm ơn Sư cô Huệ Trang ở Trung Tâm Dịch Thuật Hán Nôm Huệ Quang, Tp Hồ Chí Minh, đã góp phần phiên âm và dịch các ghi chú của bản T.1111 này:
                 Kinh “Thanh Cảnh Quán Tự Tại Bồ Tát Tâm Đà La Ni”
         
Lúc bấy giờ Thế Tôn ở Tì Sa Môn Thiên Cung, thuyết nhân duyên xa xưa của ngài Quán Tự Tại Bồ Tát.
         Thời quá khứ vô lượng vô biên a-tăng-kỳ kiếp có đức Phật danh hiệu là Quán Chiếu Quán Sát Như Lai, sau khi đã thành đạo, trụ lại 27 ngày để thuyết pháp. Khi ngài sắp nhập Niết Bàn thì lại có mặt một vị Thiên tử tên là Việt Na La Diên Lực, và khi ấy vì vị Thiên tử ấy mà Như Lai  thuyết bài chân ngôn “Thanh Cảnh Quán Tự Tại Bồ Tát Tâm Chân Ngôn” này.
        Vị Thiên tử này vừa nghe xong bài chân ngôn liền đắc được Đại Bi Tam Ma Địa, nên liền phát nguyện rằng:
       “ Nếu mọi chúng sinh nào có điều hoảng sợ, ách nạn mà nghe được tên ta thì đều được thoát khổ và được giải thoát, mau chứng được vô thượng chánh đẳng bồ đề”.
       Cho nên thà xưng một danh hiệu Quán Tự Tại Bồ Tát mà không nên xưng trăm ngàn lần danh hiệu của chư Như Lai nhiều như cát sông Hằng.
       Lúc bấy giờ Thế Tôn lại bảo Tì Sa Môn Thiên Vương rằng: “ Ngươi nên biết rằng sau khi ta diệt độ thì vị Thiên tử ấy sẽ làm bài Tâm chú này được lưu thông rộng khắp, làm Phật sự lợi ích cho vô biên chúng sanh, đặt họ lên trên con đường đến Vô thường Bồ đề”.
       Bài Đà La Ni đó như thế này:
       Tương truyền rằng mỗi khi đi vào trong Đạo tràng, trước hết là quỳ, sám hối, phát nguyện xong thì ngồi xếp bằng theo thế kiết già, đó là tạo ấn để tịnh tam nghiệp và tu tập chân ngôn. Sau đó kết tam bộ hộ thân ấn, tức là kết hậu căn bản ấn, rồi tụng chân ngôn 7 lần, tán ấn trên đỉnh đầu, rồi cầm chuỗi hạt lần 100  hay 1000 vòng tùy theo thời.
     Tam Tạng Sa Môn Đại Quảng Trí Bất Không vâng lệnh vua chú thich ý nghĩa tại Chùa Đại Hưng Thiện.
(Lưu ý: các chữ của bài chú được in lớn, các ghi chú của ngài Amoghavajra và phần dịch nghĩa các ghi chú được in nhỏ. Ngoài ra, trong bản phiên âm T. 1111 ra chữ Hán, ngài Amoghavaira không phân chia ra từng câu, chúng tôi phân chia ra từng câu cho dễ đọc)

    1.  NẴNG MÔ (dẫn) RA ĐÁT NẴNG (nhị hợp) ĐÁT RA (nhị hợp) DẠ (dẫn) DA (tam bảo).
    2.  NẴNG MÔ (khể thủ = cúi đầu lạy) A (khứ, dẫn) LY DA (nhị hợp) PHẠT LỘ (dẫn) CHỈ ĐẾ (dẫn) THẤP PHẠT (nhị hợp) RA (dẫn) DA (Thánh Quán Tự Tại).
    3.  MẠO (dẫn) ĐỊA TÁT ĐÁT PHẠT (nhị hợp) DẠ MA GIÁ (dẫn) TÁT ĐÁT PHẠT (nhị hợp) DẠ MA HA (dẫn) CA (dẫn) RÔ NI CA DA (đại bi giả = bậc có lòng đại bi).
    4.  TÁT PHẠT MÃN (thượng) ĐÀ NẴNG THIẾT (dẫn) NA NẴNG (cát = cắt) CA RA (dẫn, đoạn = cắt) DA (năng đoạn nhứt thiết hệ phược = có khả năng cắt tất cả các ràng buộc)
    5. TÁT PHẠT BÀ (khứ) PHẠT (tam hữu) SA MUỘN NỘT RÔ (nhị hợp) THƯỚC LỆ NÔ (thượng) CA RA DA (năng kiệt tam hữu hãi, nhứt thiết sanh tử khổ = có khả năng làm cạn biển (khổ) của ba cõi và tất cả các khổ sanh tử).
    6. TÁT PHẠT NHỈ DA (nhị hợp) ĐỊA BÁT RA (nhị hợp) XÁ MA NẴNG CA RA DA (linh tức nhứt thiết tật bệnh = khiến chấm dứt tất cả bệnh tật).
    7. TÁT PHỆ ĐỂ DU (nhị hợp) BÁT NẠI RA (nhị hợp) PHẠT VĨ NẴNG (dẫn) XÁ  NẴNG CA RA DA (năng đoạn nhứt thiết tai quá = có khả năng trừ tất cả tai họa).
    8. TÁT PHẠT BÀ (dẫn) DỆ (dẫn) SỐ ĐÁT RA (nhị hợp) NOA DA (cứu tế bố úy = cứu giúp làm hết sợ hãi).
    9.  ĐÁT TẢ NẴNG MÔ SA NGẬT RỊ (nhị hợp) ĐÁT PHẠT (nhị hợp) Y NA MA (dẫn) RỊ DÃ (nhị hợp) PHẠT LỘ (dẫn) CHỈ ĐẾ (dẫn) THẤP PHẠT (nhị hợp) RA (ngã kim lễ bỉ Thánh Quán Tự Tại = nay con đảnh lễ Ngài Tôn Thánh Quán Tự Tại kia).
    10. ĐA PHẠT NINH (dẫn) LÕA SẢN CỬ (sắc giản phản, cư cử phản)  NẴNG MA (dẫn) HỘT RỊ (nhị hợp) NẠI DA (nhị hợp, Thánh giả Thanh Cảnh tâm chân ngôn = đây là Chân Ngôn phát xuất từ tâm của ngài Tôn thánh Thanh Cảnh ).
    11.  MA PHẠT ĐA DĨ LỆ (nhị hợp) DI (ngã kim thuyết =  nay ta thuyết)
    12. TÁT PHẠT THA (lợi ích) SA ĐÀ NẪM DU BẠN (bồ cảm phản, nhứt thiết lợi ích thành tựu thanh tịnh = tất cả các lợi ích được thành tựu một cách thanh tịnh).
    13. A THỆ (từ tế phản) VẤN TÁT PHẠT BỘ (dẫn khứ) ĐA NẪM (ư chư quỉ thần đắc thắng = chiến thắng tất cả quỉ thần).
    14. BÀ PHƯỢC MẠT LẬT NGA VĨ TUẤT ĐÀ KIÊM (bổn năng tịnh tam hữu đạo = vốn có thể  làm thanh tịnh chúng sanh trong ba cõi).
    15. ĐÁT NỄ DA (nhị hợp) THA (sở vị, diệc vân tức thuyết = nghĩa là cũng nói  “tức thuyết”).
    16. ÁN (thích tại như  ý luân = giải thích nơi chỗ như ý luân).
     A LỘ KẾ (quang minh = ánh sáng) A (chí = tâm chí) LỘ CA MA ĐỂ (quang minh tuệ  = trí tuệ quang minh) LỘ CA (dẫn) ĐỂ NGẬT RỊ (nhị hợp) ĐẾ (siêu thế gian = vượt khỏi thế gian)
    17. TƯ TƯ HẠ LỆ (ma, khánh tai sư tử = lành thay Sư tử)
    18.  MA HA (dẫn) MẠO ĐỊA TÁT ĐÁT PHẠT (nhị hợp) HỆ MẠO (dẫn) ĐỊA TÁT ĐÁT PHẠT (nhị hợp) BÁT RỊ (nhị hợp) DẠ MẠO (dẫn) ĐỊA TÁT ĐÁT PHẠT (nhị hợp, khánh tai ư mẫn Bồ Tát = lành thay nơi vị Bố Tát từ mẫn).
   19.  HỆ CA RÔ (dẫn) NI CA SA MA (nhị hợp) RA HỘT RỊ (nhị hợp) NẠI DIÊM (khánh tai đại bi ức niệm tâm chân ngôn = lành thay Đại Bi  nhớ nghĩ đến Tâm Chân Ngôn).
    20. TƯ TƯ (dẫn) HẠ LỆ A RỊ DA (nhị hợp) PHẠT LỘ CHỈ ĐẾ THẤP PHẠT (nhị hợp) RA (khánh tai Sư Tử Vương Quán Tự Tại = lành thay Sư Tử Vương Quán Tự Tại) .
    21.  MA HỆ (dẫn) THẤP PHẠT (nhị hợp) LA (đại tự tại)
    22.  PHA LA MA MỖI ĐÁT RA (nhị hợp) TỨC ĐA (giới thắng từ tâm = cảnh giới thì thù thắng, tâm thì từ)  MA HẠ (dẫn)
    23.  CA RÔ NI CA (đại bi giả = bậc đại bi).
    24.  CỦ RÔ YẾT MA (tác phục tác sự nghiệp = làm lại làm nữa sự nghiệp).
    25.  SA ĐÀ DẠ SA ĐÀ DẠ VĨ NẪM (minh thành tựu, dẫn hậu)
    26.  NỄ TƯ (dẫn dữ) NỄ TƯ (dẫn dữ) NỄ TƯ MINH PHẠT LAM (dữ ngã nguyện = giúp cho nguyện của tôi)
    27.  CA (dẫn) MÔNG (dẫn) NGA ĐỂ (sở hi thất = căn nhà mong đợi)
    28.  VĨ ĐÁT NGA MA (giai như ý = đều như ý)
    29.  VĨ NGA MA (viễn ly ẩn = xa lìa tai họa).
    30.  TẤT ĐÀ DU (dẫn) NGHỊ (dẫn, nghê dị phản) THẤP PHẠT (nhị hợp) RA (thành tựu du già tự tại = thành tựu thiền định tự tại).
    31.  ĐỘ RÔ ĐỘ RÔ VĨ DIỄN ĐỂ (trụ trì du không giả = bậc chấp trì việc rong chơi nơi không trung)
    32.  MA HA (dẫn) VĨ DIỄN ĐẾ (đại du không trung giả = bậc rong chơi nơi hư không vĩ đại).
    33.   ĐÀ RA ĐÀ RA ĐÀ LIÊN (dẫn) NẠI LIÊN (nhị hợp) THẤP PHẠT (nhị hợp) RA (trì phục trì đế vương tự tại = trì rồi lại trì Đế Vương Tự Tại).
    34.  TẢ RA TẢ RA (động) VĨ MA RA (dẫn) MA RA MỘT LẬT (nhị hợp) ĐẾ (động diêu ly cấu, ly cấu thân = lay động làm xa lìa nhơ nhớp, thân lìa nhơ nhớp).
    35.  A (khứ) RỊ DÃ PHẠT LỘ CHỈ ĐẾ THẤP PHẠT (nhị hợp) RA (dẫn) NHỈ NẴNG NGẬT RỊ (nhị hợp) SỬ NOA (Thánh Quán Tự Tại Bồ Tát giác cách phi lộc bì y = cách thức Thánh Quán Tự Tại mặc y da nai có mang sừng).
     36.  NHẠ SẤT ĐỒNG CỬ SẤT (khứ dẫn) PHẠT LÃM MA BÁT Ra (nhị hợp) LÃM MA (đầu quán anh lạc thùy chư hoa man = đầu quấn chuỗi ngọc  có hoa rủ xuống).
     37.  MA HẠ (dẫn) TẤT ĐÀ VĨ NỄ DẠ (nhị hợp, dẫn) ĐÀ LA (đại thành tựu trì minh Phật = Phật đại thành tựu trì minh )
    38.  MA LA (dẫn) MA LA (dẫn) MA HẠ (dẫn) MA LA MẠT LA MẠT LA MA HẠ (dẫn) MẠT LA (nội cấu, ngoại cấu, đại vô cấu = cấu nhiễm trong, cấu nhiễm ngoài, bậc không có cấu nhiễm vĩ đại).
    39.  TẢ LA TẢ LA MA HA TẢ LA (động phục động đại vô động = động rồi lại động, bậc vô động vĩ đại).
    40. NGẬT RỊ (nhị hợp) SỬ NOA (nhị hợp) NIỆT LA (nhị hợp) NOA NGẬT RỊ (nhị hợp) SỬ NOA (nhị hợp) BÁC KHẤT SÁI (nhị hợp) NIẾT GIÀ (khứ) ĐA (thượng) NẴNG (năng suy hắc sắc minh thảng = có thể làm cho màu đen sáng rỡ ra).
   41.  HỆ (dẫn) MA HẠ (dẫn) BÁT NẠP MA (nhị hợp) HẠ SA ĐA (nhị hợp, khánh tai liên hoa thủ = lành thay Liên Hoa Thủ).
   42. TẢ RA TẢ RA NINH XÁ (dẫn) TẢ LỆ (dẫn) THẤP PHẠT (nhị hợp) LA (hành phục hành tự tại = làm rồi lại làm tự tại).
   43.   NGẬT RỊ (nhị hợp) SỬ NOA (nhị hợp, thượng) TÁT BÀ NGẬT RỊ (nhị hợp) ĐA (thượng) DIỄN NỮ (ni du phản, dẫn) PHA VĨ (dẫn) ĐA (hắc xà tác thằng tuyến = con rắn màu đen dùng làm dây).
   44.   Ê HÊ (khứ, dẫn) TƯ MA HẠ (dẫn) PHẠT RA (dẫn) HẠ MỤC KHÊ (lai lai đại trư đầu = đến, đến, cái đầu heo lớn)
   45.  ĐỂ RỊ (nhị hợp) BỔ RA NA HẠ NINH (dẫn) THẤP PHẠT (nhị hợp) LA (phạm thiêu ngôn cung tự tại giả = lửa phạm nói rằng cung đình là tự tại).
     46.  NẴNG LA (dẫn) DÃ NOA RÔ (dẫn) PHA (dẫn) MA LA PHỆ (dẫn) NGẠ ĐÀ (dẫn) RỊ (dẫn, trì na la diên lực hình, lực trì tấn giả = duy trì thân thể có nara diên lực (nārāyaṇa), nỗ lực chấp trì hình thể đó mà tiến tới).
     47.  HỆ NINH (dẫn) LA KIỂN ĐÀ (Thanh cảnh) HỆ (dẫn) MA HẠ (dẫn) HẠ (dẫn) LA (dẫn) HẠ (dẫn) LA VĨ SÁI NIẾT (ninh dẫn phản) RỊ (nhị hợp) NHỈ (từ phản dẫn) ĐA (dẫn, khánh tai đại mãnh ác độc đắc thắng giả = lành thay bậc đắc thắng đại mãnh liệt ác độc).
     48.  LỘ (dẫn) YẾT TẢ RA (dẫn) NGA VĨ SÁI VĨ NẴNG (dẫn) XẢ NẴNG (trừ diệt thế gian sân độc = diệt trừ các sân độc  của thế gian)
     49.  MÔ HẠ VĨ SÁI (dẫn) VĨ NẴNG (dẫn) XÁ NẴNG (trừ diệt thế gian si độc = diệt trừ các độc si mê của thế gian).
     50.  HÔ RÔ HÔ RÔ MA RA HÔ RÔ HẠ LỆ (tốc tật liên hoa đài, tốc tật = liên hoa đài  đến mau, đến mau).
     51. MA HẠ BÁT NẠP MA NẴNG (dẫn) BÀ (dẫn, hô sư tử vương liên hoa giả, Quán Tự Tại Bồ Tát tức thị giác hoa diệc danh Phật Liên Hoa = bậc gọi là Sư Tử Vương Liên Hoa, là Bồ Tát Quán Tự Tại tức là Giác Hoa cũng có tên là Phật Liên Hoa).
    52. TÁT RA TÁT RA (liên hoa) TẤT RỊ TẤT RỊ (liên hoa) TÔ RÔ TÔ RÔ (liên hoa cảnh = cổ liên hoa).
    53.  MỘT ĐỊA DÃ (nhị hợp, sở giác sở = chỗ sở giác).
    54.  MẠO ĐÀ DÃ MẠO ĐÀ DÃ DI ĐẾ HỆ (ngã linh bỉ hữu tình giác ngộ = ta khiến kẻ hữu tình kia được giác ngộ).
    55.  NINH LA KIỂN TRA  Ê HÊ (dẫn) TƯ PHẠT (dẫn) MA SA THỂ (nhị hợp) ĐA TĂNG (khứ) HẠ MỤC KHƯ (thượng, dẫn, vị lai tả trụ sư tử diện = về sau mặt sư tử ở bên trái)
   56.  HẠ (dẫn) SA (thượng) HẠ SA (thượng, tiếu = cười).
   57.  MUỘN TẢ MUỘN TẢ (phóng) MA HẠ (dẫn) SẤT SẤT (thượng) HẠ (dẫn) SA (khứ, đại ha ha tiếu = cười lớn ha ha).
    58.  Ê (khứ) TƯ (dẫn) BỘC (dẫn) MA HẠ (dẫn) TẤT ĐÀ DỤ (khứ, dẫn) NGHỈ THẤP PHẠT (nhị hợp) LA (lai lai đại thành tựu du già tự tại giả = đến, đến bậc đại thành tựu thiền đinh tự tại)
   59.  BÀ (thượng) NOA BÀ NOA PHẠ (dẫn) TÁ (tác xá phản, thuyết ngữ dã = là nói vậy).
   60.  SA ĐÀ DẠ SA ĐÀ DẠ (dẫn) VĨ NẪM (thành tựu thành tựu chân ngôn minh = thành tựu, thành tựu minh của chân ngôn)
     61. SA MA (nhị hợp) LA SA MA (nhị hợp) LA ĐẢM BÀ (khứ) NGA VÃNG (vô mãn phản) ĐAM LỘ CHỈ ĐA VĨ LỘ CHỈ ĐAM ĐÁT THA (khứ, dẫn) NGHIỆT ĐAM (đại ức niệm ức niệm dã, tôn Quán Chiếu Quán Sát = nhớ nghĩ kĩ lưỡng, nhớ nghĩ vậy, Thế Tôn quán chiếu quán sát).
    62. NA NA (dẫn) TƯ MINH TÁT PHẠ TÁT ĐÁT PHẠT (nhị hợp) NẪM (dữ nhứt thiết chúng sanh = cho tất cả chúng sanh)
    63.  NẠI LA (nhị hợp) XÁ NẴNG CA MẠT TẢ NẠI LA (nhị hợp) XÁ NẪM BÁT LA (nhị hợp) CA LA (nhị hợp) NA DẠ MA NẶC BÀ PHẠ (nhị hợp) HẠ (dẫn, nhạo kiến giả linh kiến, linh ý hoan hỉ = kẻ thích thấy khiến cho thấy, khiến cho tâm vui mừng).
     64. TẤT ĐÀ DẠ BÀ PHẠ (nhị hợp) HẠ (thành tựu phước trí viên mãn) MA HẠ TẤT ĐÀ DẠ BÀ PHẠ (nhị hợp) HẠ (đại thành tựu phước đức).
    65.  TẤT ĐÀ DỤ NGHỈ THẤP PHẠ (nhị hợp) LA DẠ BÀ PHẠ (nhị hợp) HẠ (thành tựu du già tự tại giả viên mãn = sự việc thành tựu thiền định tự tại được viên mãn ).
    66.  NINH LA KIỂN TRA (dẫn) DẠ BÀ PHẠ (nhị hợp) HẠ (dẫn, thanh cảnh = ngài Cổ Xanh)
   67.  PHẠT LA HẠ MỤC KHƯ (khứ, dẫn) DẠ BÀ PHẠ (nhị hợp) HẠ (dẫn, đại sư tử diện phước trí viên mãn = mặt Đại Sư Tử phước trí tròn đầy).
   68.  TẤT! ĐÀ VĨ NỄ DẠ (nhị hợp) ĐÀ LA (dẫn) DẠ BÀ PHẠ (nhị hợp) HẠ (thành tựu trì minh, phước trí viên mãn).
   69.  BÁT NẠP MA (nhị hợp) HẠ SA ĐÁ (nhị hợp) DẠ BÀ PHẠ (nhị hợp) HẠ (liên hoa thủ phước trí viên mãn = cẩm hoa sen trong tay phước trí tròn đầy).
   70. NGẬT RỊ (nhị hợp) SỬ NOA (nhị hợp) TÁT  PHẠ NGẬT RỊ (nhị hợp) ĐA (thượng) DIỄN NU (ni du phản, nhị hợp) PHẠ VĨ ĐA DẠ BÀ PHẠ (nhị hợp) HẠ (hắc xà tác thần tuyến phước đức = con rắn màu đen làm sợi dây thần phước đức).
   71.  MA HẠ LA CỦ SẤT ĐÀ LA (dẫn) DẠ BÀ PHẠ (nhị hợp) HẠ (trì đại trượng giả phước viên mãn = bậc cầm cây gậy lớn phước tròn đầy).
   72.  CHƯỚC NGẬT LA (nhị hợp) DU ĐÀ (dẫn) DẠ BÀ PHẠ (nhị hợp) HẠ (trì luân khí trượng giả= bậc cầm gậy binh khí gắn đĩa tròn).
   73. THƯỜNG KHƯ NHIẾP NA (nhị hợp) NINH MẠO (dẫn) ĐÀ (dẫn) NẴNG (dẫn) DẠ BÀ PHẠ (nhị hợp) HẠ (pháp loa thanh kinh giác = tiếng tù và làm giật mình mà giác (ngộ)).
   74.  PHẠ MA SA KIỂN (nhị hợp) ĐÀ NỂ XÁ BÀ THỂ (nhị hợp, trì dỉ phản) ĐA NGẬT RỊ (nhị hợp) SỬ NOA (nhị hợp) NHỈ NẴNG (dẫn) DẠ BÀ PHẠ (nhị hợp) HẠ (tả kiên sở trụ bị hắc lộc bì nguyện trí viên mãn = vai trái phủ da nai đen, ước nguyện và trí đều viên mãn).
   75.  VĨ DẠ (nhị hợp) GIÀ LA (nhị hợp) TIỆT MA NINH PHẠ TÁT NẴNG (dẫn) DẠ BÀ PHẠ (nhị hợp) HẠ (lôc bì quần giả = quần bằng da nai)
    76.  LỘ KẾ THẤP PHẠ (nhị hợp) LA DẠ BÀ PHẠ (nhị hợp) HẠ (Quán Tự Tại Bố Tát phước đức viên mãn).
    77.  TÁT PHẠ TẤT ĐỆ THẤP PHẠ (nhị hợp) RA DẠ BÀ PHẠ (nhị hợp) HẠ (nhứt thiết thành tựu tự tại = tất cả thành tựu tự tại).
    78.  NẴNG MÔ BÀ NGA PHẠT ĐẾ (qui mệnh giả = qui mạng vậy) A RỊ DÃ (nhị hợp) PHẠT LỘ CHỈ ĐẾ (dãn) THẤP PHẠ (nhị hợp) RA DẠ (Thánh Quán Tự Tại Bồ Tát).
     79.  MẠO ĐỊA TÁT ĐÁT PHẠ (nhị hợp) DẠ MA HA TÁT ĐÁT PHẠ (nhị hợp) DẠ (dũng mãnh giả = bậc dũng mãnh)
     80. MA HẠ CA RÔ NI CA DA (đại bi giả = bậc đại bi)
     81. TẤT ĐIỀN ĐỒ MÃN ĐÁT RA (nhị hợp) PHẠ NA (dẫn) DA (chân ngôn cú thành tựu = các câu chân ngôn thành tựu)
    82.  SA PHẠ (nhị hợp) HẠ (dẫn, bách nhứt thập = một trăm mười)
                         ---------------------------------------------------
       Tiếp đến nên nói về phương pháp vẽ tượng ngài Thanh Cảnh Quán Tự Tại Bồ Tát này. Tượng ngài có ba mặt, mặt chính phía trước có vẻ từ bi vui tươi, phía bên phải là mặt sư tử, phía bên trái có mặt heo. Trẹn đầu đội mũ có mang châu ngọc, chính giữa mũ có Hóa Vô Lương Thọ Phật. Ngài lại có 4 tay; tay phải thứ nhất  cầm trượng, tay phải thứ hai cầm nhánh liên hoa; tay trái thứ nhất cầm đĩa (binh khí), tay trái thứ hai cầm con tù và (loa). Quần làm bằng da hổ, lấy da nai đen buốc sừng nơi xương đùi trái, mang con rắn đen làm sợi dây thần. Ngài đứng trên đóa hoa sen tám cánh, trang nghiêm thân bằng chuỗi ngọc đeo ở cổ, vòng xuyến tay, vòng đeo, ngọc bội, tất cả đều có ánh sáng rực rỡ, sợi dây thần ở đưới nơi chỗ buốc sừng ở đùi trái.
        Thanh Cành Ấn: Hai tay ngoài xoa với nhau, ngón tay cái trái tháp nhập vào lòng bàn tay , ngón tay cái phải dựng thẳng, hai ngón giữa làm hình lá hoa sen, hai ngón vô danh dựng thẳng, áp trái đại thụ tương xoa.
        Năm Khoan Diên thứ hai, kỷ tỵ, tháng 7, trung tuần.
        Một lần giảo định xong, mong các vị minh triết đời sau gặp được bản tốt đem ra đối chứng làm cho bản kinh ngày một hoàn thiện hơn.
         Vajra (bằng ký tự Siddham) thừa vô đẳng (Không có gì bằng Kim Cương Thừa) 
                          ---------------------------------------------------
      X. Bản Chú Đại Bi của Ji-un Sonja (45): Bản này được Lokesh Chandra cho là rất có giá trị vì ngữ nghĩa tiếng Phạn là nghiêm chỉnh nhất. Lưu ý “…a   e” chính là Vocative số ít của “…a”. Chẳng hạn “ avaloka  e” là Vocative “avaloke” của “avaloka”

             1. namo ratna-trayāya | nama āryᾹvalokiteśvarāya bodhisattvāya mahāsattvāya mahākāruṇikāya | Oṃ sarva-bhayeṣu trāṇa-karāya tasya namaskṛtvā imaṃ āryᾹvalokiteśvara-stavanaṃ Nīlakaṇṭha-nāma |
           2. hṛdayaṃ vartayiṣyāmi sarvārtha-sādhanaṃ śubham |
               ajeyaṃ sarva-bhūtānāṃ bhava-mārga-viśodhakam ||

           3. TADYATHᾹ | Oṃ avaloka e ālokapati atikrānta ehy-ehi Hare mahābodhisattva sarpa-sarpa | smara-smara mama? hṛdayaṃ | kuru-kury karma | dhuru-dhuru vijayanta e mahāvijayanta e | dhara-dhara dharaṇīndreśvara-rāja | cala-cala mama vimal-āmala-mūrtte re | ehy-ehi Lokeśvara | rāga-viṣaṃ vināśaya | dveṣa-viṣaṃ vināśaya | moha-jāla-viṣaṃ vināśaya | hulu-hulu Malla | hulu Hare Padmanābha | sara-sara siri-siri suru-suru | bodhiya-bodhiya bodhaya-bodhaya | maitriya Nīlakaṇṭha | darśanena prahlādaya namaḥ svāhā |
          siddhāya svāhā | mahāsiddhāya svāhā | siddhayogeśvarāya svāhā | Nīlakaṇṭhāya svāhā | Varāhamukha-siṃhamukhāya svāhā | padma-hastāya svāhā | cakra-hastāya [svāhā] |
śaṅkha-śabda-nibodhanāya svāhā | mahālakuṭa-dharāya svāhā | vāma-skandha-deśa-sthita-kṛṣṇ-ājināya svāhā | vyāghra-carma-nivasanāya svāhā |
         4. namo ratna-trayāya | nama aryᾹvalokiteśvarāya svāhā || samāpta||
                        --------------------------------------------------------------

XI. Bản Chú Đại Bi ở Hàn Quốc : Bản Chú Đại Bi phổ biến ở Hàn Quốc cũng chia làm 84 câu như Việt Nam ta. Ngoài bản trong kinh sách, một bản Chú Đại Bi viết theo thư pháp gồm chữ Siddham và chữ Hàn và một số tranh ảnh của các ngài Avalokiteśvara , Lokeśvara, …in thành 20 trang để các Phật tử treo trong nhà (46):
Lưu ý là đọc theo từng cột trừ trên xuống và từ bên trái qua. Mỗi câu gồm 3 thứ chữ: Chữ Hàn, Chữ Siddham (dạng thư pháp), Chữ Phạn (dạng Devanāgarī). Phần mở đầu và mấy tờ cuối cùng có các câu chữ Hán.
                                             
                                            

                                          
                                  

                                      
                                       

                                       
                            

                                        
                                         

                                        
                                        

                                              
                                                

                                           

                                          

                                          

                                          

                                        

                                        

 

                                                

       Nhận xét kết thúc:
       

        Chúng tôi nghĩ rằng việc am hiểu ý nghĩa của chú Đại Bi là cần thiết đối với mọi Phật tử. Nhưng đọc bản Chú Đại Bi gồm 84 câu với 415 chữ theo âm Hán Việt như truyền thống lâu nay thì người Việt Nam chúng ta không thể hiểu được ý nghĩa vì đó là phiên âm của phiên âm nên đã lạc xa nguyên gốc tiếng Phạn.

       Cần phải căn cứ trên bản Phạn văn của Chú Đại Bi mới có thể hiểu được nghĩa của từng câu của bài chú. Nhưng bản Phạn văn gốc của Chú Đại Bi đã thất lạc từ xa xưa, có lẽ trước khi các thánh tăng phiên âm Chú Đại Bi ra chữ Hán vào thế kỷ thứ 7.
       Chúng tôi đã lưu tâm tới tất cả những bản Chú Đại Bi trong Hán tạng, và những bản Phạn văn được khôi phục lại của Chú Đại Bi, và ý nghĩa của các bản ấy từ các nguồn khác nhau được quan tâm nhất, đặc biệt  là các bản của Lokesh Chandra. Trên cơ sở đó, chúng tôi đúc kết lại để lọc ra một bản Phạn của Chú Đại Bi mà về mặt ngữ nghĩa là tốt nhất theo khả năng hiểu biết của chúng tôi. Và từ bản Phạn ấy, chúng tôi dịch ra tiếng Việt, và phiên âm trực tiếp từ Phạn ra Việt.
      Việc tụng niệm Chú Đại Bi qua phiên âm trực tiếp từ Phạn ra Việt thì âm thanh nghe rất gần giống âm Phạn hơn âm Hán Việt. Cho nên, ngoài bản Chú Đại Bi gồm 84 câu với 415 chữ theo âm Hán Việt quen thuộc từ trước tới nay, giới Phật tử  Việt Nam  chúng ta cũng nên biết và nên tung niệm Chú đại Bi theo bản phiên âm trực tiếp từ Phạn ra Việt.

      Đây quả là một việc không dễ và nhất là đối với khả năng còn hạn chế của bản thân chúng tôi, cho nên kết quả thu được hẵn là chưa thể nào hoàn hảo được.
     Kính mong các bậc tôn túc trong Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam, các bậc cao minh, các thiện tri thức lưu tâm mà bổ khuyết cho.       

                                                                                     Lê Tự Hỷ

Tài liệu tham khảo và ghi chú
1. http://en.wikipedia.org/wiki/Mantra- Mantra in non-esoteric Mahayana Buddhism - the Great Compassion Mantra;     http://en.wikipedia.org/wiki/Nῑlakantha_dhāranῑ   
2. Kinh Thiên Thủ Thiên Nhãn Quán Thế Âm Bồ Tát Quảng Đại Viên Mãn Vô Ngại Đại Bi Tâm Đà La Ni , Ht Thích Thiền Tâm dịch. Có thể đọc ở:
http://phathocvienpghh.net/BUD310.htm hay http://www.buddhismtoday.com/viet/niemphat/thienthuthiennhan.htm
3. xem 2.
4. Nhị Khóa Hiệp Giải, Đại Bi Thần Chú, chú giải: Ngái Quán Nguyệt, Việt dịch: HT Thích Khánh Anh, http://quangduc.com/kinhdien/241nhikhoahg04.html).
5. xem 2.
6. xem 2.
7.
大慈大悲救苦觀世音自在王菩薩廣大圓滿無礙自在青頸大悲心陀羅尼

Đại Từ Đại Bi Cứu Khổ Quán Thế Âm Tự Tại Vương Bồ Tát Quảng Đại Viên Mãn Vô Ngại Tự Tại Thanh Cảnh Đại Bi Tâm Đà La Ni

                     大廣智不空譯
           Quảng Đại Trí Bất Không Dịch  
http://www.cbeta.org/result/normal/T20/1113b001.htm      

8. xem 1. “The Nīlakaṇṭha Dhāranī
(नीलकण्ठ धारनी) also known as Mahā Karuṇā Dhāranī (महा करुणा धारनी), popularly known as the Great Compassion Mantra in English, and known as the Dàbēi Zhòu (大悲咒) in Mandarin Chinese, is a dharani of Mahayana Buddhist origin”
9.
Lionel Giles, Descriptive Catalogue of the Chinese Manuscripts from Tunhuang in the British Museum, London, 1957: 105-106).
10. Lokesh Chandra,
Sanskrit Texts from the Imperial Palace at Peking [STP] Parts 1-22 (Origin of The Avalokitesvara of Potala), New Delhi 1968-1977, International Academy of Indian Culture . Có thể đọc ở : http://himalaya.socanth.cam.ac.uk/collections/journals/kailash/pdf/kailash_07_01_01.pdf : “Manuscript 3793 of the Stein Collection of Chinese scrolls from Tun-huang adds a note at the end: “ Translated at Khotan by the sramana Bhagavaddharma of Western India”.
11. xem 2.
12.
Rol-pahi Rdorje (1717-1786), sinh ra trong một gia đình người Mông Cổ tại Tsongkha vùng Amdo năm 1717. Vào năm lên 4, được nhìn nhận như là vị tái sinh của Changkya Lobzang Chöden, vị Chankya thứ hai (lãnh đạo tinh thần của hệ phái Phật giáo Tây tạng Geluk tại vùng Nội Mông dưới thời nhà Thanh) và được đưa về tu viện Gonlung Jampa, một trong 4 tu viện quan trọng nhất của phái Geluk tại Amdo. Năm 1724  bị đưa về triều đình nhà Thanh ở Bắc Kinh sau khi Tu viện của ông bị phá hủy bởi quân nhà Thanh. Tại Bắc Kinh, Rol-pahi Rdorje được học tập với nhiều Đại sư và là một người bạn học của ông hoàng tử mà sau thành vua Càn Long. Mối quan hệ nay khiến ông trở thành thầy về Phật học của Càn Long, làm phiên dịch giữa Càn Long và các đoàn ngoại giao đến từ Tây Tạng, Mông Cổ, các nước vùng Trung Á
13. Ji-un Sonja
(1718-1804) là nhà sư, một học giả, nhà thư pháp, một họa sĩ, được xem như một trong những nhà thư pháp có uy quyền nhất trong truyền thống Zenga của Nhật Bản, xuất sắc về chữ Hán, Chữ Nhật và Chữ Phạn. Vào năm 21 tuổi Ji-un đã trở thành Trù Trì chùa Horakuji . Ông dành cả cuộc đời cho việc dạy học ở các thiền viện với nhấn mạnh rằng việc học chữ Phạn là rất quan trọng vì ông tin rằng việc am hiểu các văn bản gốc về Phật giáo là căn bản để am hiểu trọn vẹn kinh sách Phật. Công trình học thuật vĩ đại nhất của ông là chủ trương biên tâp 1000 tập về “Xem xét và khảo luận về những tư liệu bằng chữ Phạn”, truy tìm lai lịch của những tư liệu chữ Phạn tại Trung Quốc và Nhật Bản và giải thích ngữ pháp tiếng Phạn (http://www.artfact.com/artist/sonja-jiun-sj43kjv6e3)
4
Lokesh Chandra, The Thousand armed Avalokiteśvara, p. 97 :  “It is interesting to note that the two corresponding Chinese characters alongside cinda in T 1113b itsefl  read sometimes like śi-na instead, which goes to show the extent of the corruption . All other versions  also have śi-na. Amoghavajra in his annotation (T1111) explain it as the black serpent used as a thread”
15. Lokesh Chandra, The Thousand armed Avalokiteśvara, p. 97  
16.  http://en.wikipedia.org/wiki/Mantra- Mantra in non-esoteric Mahayana Buddhism - the Great Compassion Mantra     http://en.wikipedia.org/wiki/Nῑlakantha_dhāranῑ , Great Compassion Mantra in Chinese : “ The Chinese version which is transliterated from Siddham script in the Chinese Tripitaka (T. 1113b). It has missed not only many words of the Dharani in the Sanskrit version but also its five-parts structure that make reconstruction of the meaning impossible”
17.
Lokesh Chandra người Ấn Độ, là một học giả đương thời về Phật Giáo và Nghệ Thuật Ấn Độ. Ông là con trai của Raghu Vira, học giả nổi tiếng về tiếng Phạn. Ông đã là một thành viên của Indian Rajya Sabha, Phó Chủ Tịch Hội Đồng Ấn Độ Về Quan Hệ Văn Hóa, Chủ Tịch Hội Đống Ấn Độ Về Nghiên Cứu Lịch Sử. Năm 2006, Ông được vinh danh với Giải thưởng Padma Bhushan của Ấn Độ. Hiện nay, ông là Giám đốc của International Academy of Indian Culture. Ông đã được đánh giá cao với hơn 360 công trình nghiên cứu và sách đã xuất bản. Trong số đó có những công trình và sách liên quan tới Phật giáo như , Tibetan-Sanskrit Dictionary, Materials for a History of Tibetan Literature, Buddhist Iconography of Tibet, and his Dictionary of Buddhist Art , vả Sanskrit Texts from the Imperial Palace at Peking( New Delhi 1968-1977, International Academy of Indian Culture
18. Lokesh Chandra, Sanskrit Texts from the Imperial Palace at Peking [STP] Parts 1-22 (Origin of The Avalokitesvara of Potala), New Delhi 1968-1977, International Academy of Indian Culture . Có thể đọc ở :
http://himalaya.socanth.cam.ac.uk/collections/journals/kailash/pdf/kailash_07_01_01.pdf
19. Nīlakantha dhāranī, http://en.wikipedia.org/wiki/Nīlakantha_dhāranī
20. Thích Nữ Huệ Trung, KHÁI QUÁT TÌM HIỂU MẬT TÔNG QUA CHÚ ĐẠI BI, (Luận văn Tốt nghiệp), dentutraitim.com; http://quangduc.com/luanvan/khoa5-29huetrung.html
21. D.T. Suzuki, Dhāraṇī  of The Great Compassionate One, Manual of Zen Buddhism, London, 1950, Rider;
có thể đọc ở : http://himalaya.socanth.cam.ac.uk/collections/journals/kailash/pdf/kailash_07_01_01.pdf
22. Hòa thương Tuyên Hóa, Chú Đại Bi Giảng Giải, nhà xuất bản Tôn giáo, 2006, trang 67
23. Xem 20.
24. Lokesh Chandra, The Thousand Armed Avalokiteśvara, 1988, p.187)
25. Lokesh Chandra, The Thousand armed Avalokiteśvara, p.12-13 :”The next step in evolution is that the Nīlakaṇṭha hymn with the attributes of Hari and Hara is tagged on to Him. Hari contributes the attributes of His hands and the faces of His Varāha and Narasiṃha incarnation. The multiple epithets of Hara and His pelts of deer and tiger and yajñopavīta of the black serpent are attached”
26. Lokesh Chandra, The Thousand armed Avalokite śvara, p.  98 : “ This epithet of  Avalokiteśvara, kṛṣṇa-sarpopavīta, is also found in the Tattva Saṅgraha, translated into Chinese by Dānapāla between A.D. 1012-1015 (Taisho 882: 18.341a1-445b10)”
27. Lokesh Chandra, The Thousand armed Avalokiteśvara, 1989, p. 97-98
28. Franklin Edgerton, Buddhist Hybrid Sanskrit Grammar And Dictionary, Motilal Banarsidass, Delhi, 1998, Vol II, p. 620.
29. Lokesh Chandra, The Thousand-Armed Avalokite
śvara, IGNCA/abhinav, 188-189 : Trong bản khôi phục lại của bản T 1061 củaVajrabodhi có câu : “sara- sara siri-siri suru-suru muru-muru”, và đươc Lokesh Chandra  giải thích như sau : sara-sara siri-siri suru-suru muru-muru : come-come come-come come-come come-come. The last three words are an international vocalic variation for thaumaturgic effect, to impel the Deity to descend. Muru-muru is a jingling duplication of suru-suru for a charismatic finalein an unknowable assonance. Later Vedic texts say : parokṣa-priyāḥ devāḥ “the gods love the cryptic”. So from sara-sara to muru-muru is the cryptic element to implore Avalokiteśvara  to be pleased to descend to bless; and to showerHis grace, His mystique to transform the deep withinthe humanself”

30. Câu 11 này, trong bản T.111b của Amoghavajra (大廣智不空 : Đại Quảng Trí Bất Không, Kim Cương Bất Không) mà Wikipedia đưa lên Internet thì có ý nghĩa khác, và theo chúng tôi là khá hay như sau:

huru huru mārā  huru huru hṛ  sārā sārā śiri śiri suru suru
Purify, purify personification of delusions; purify, purify the heart (hrdayam). Firm, firm; brave, brave; wonder form (being), wonder form (being
(
行,行無垢;行,行隨心。堅固,堅固;勇猛,勇猛;妙色,妙色。) = hành, hành vô cấu; hành, hành tùy tâm. Kiên cố, kiên cố; dũng mãnh, dũng mãnh; diệu sắc diệu sắc = Xin ngài làm, Xin ngài làm sạch hết cấu nhiễm; xin ngài làm. xin ngài làm tùy tâm. Kiên cố, kiên cố, dũng mãnh, dũng mãnh, diệu sắc, diệu sắc.
Vì vậy, chúng tôi cố gắng tìm hiểu ý nghĩa từ câu tiếng Phạn này lần lượt như sau:

- huru là một cách đọc trong câu chú của hara, ngôi hai số ít thì Impeative của hṛ (I harati) = trừ khử, hủy diệt
- mārā là một cách đọc trong câu chú của māram, Accusative số ít của māra (m) = Ma Vương --- > huru huru mārā18 = Xin hãy trừ khử, trừ khử Ma vương. Nhưng Ma Vương ở đây là Ma Vương trong tâm con. Cho nên, câu này, cũng có nghĩa: xin ngài hãy làm sạch, làm sạch hết cấu nhiễm (trong tâm con)
- hṛ là cách đọc trong câu chú của từ hṛdayam, Accusative số ít của hṛdaya (n) = tâm, tâm trí. Nhưng tâm ở đây không phải là chân tâm mà là loạn tâm, tức trong tâm có nhiều cấu nhiễm --- > huru huru hṛ = Xin hãy trừ khử, trừ khử loạn tâm hay xin hãy làm trong sach, làm trong sạch tâm con.
- sāra (a) = kiên cường, vững mạnh
- śiri hay śirī là từ semi-Middle Indic (một cổ ngữ) của từ śrī theo Edgerton, Buddhist Hybrid Sanskrit Grammar And Dictionary, Motilal Barnarsidass, 1998, Vol II, p. 528.  Và  śrī (f) = thịnh vượng, quyền năng, dũng mãnh
- suru là một cách đọc trong thần chú của từ surūpa (a) = có vóc dáng tốt đẹp, diệu sắc --- >
 huru huru mārā  huru huru hṛ  sārā sārā śiri śiri suru suru  = Xin ngài trừ khử, xin ngài trừ khử Ma vương, xin ngài làm, xin ngài làm trong sạch tâm con. Kiên cường, kiên cường, dũng mãnh, dũng mãnh, diệu sắc, diệu sắc .
31. Trong bản T.1113b của Amoghavarja mà Wikidepia đưa lên Internet thì câu 13 này là :

dhṛṣṇina bhayamana svāhā  siddhāya svāhā  mahā-siddhāya svāhā  siddhā-yoge śvarāya svāhā

Với ý nghĩa khá hay như sau:
Success in power and fame, success in benevolence, success in great benevolence, success in achieving freedom (īśvara) through union (with dharma)

(
) 堅利名聞 成就,義利 成就,大義利 成就,相應而得 自在 成就, = (tha) kiên lợi danh văn thành tựu, nghĩa lợi thành tựu, đại nghĩa lợi thành tựu, tương ưng nhi đắc tự tại thành tựu = Bậc đã thành tựu kiên đinh lợi tha và vang danh, thành tựu nghĩa lợi, thành tựu đại nghĩa lợi, bậc đã thành tựu mọi tương ứng với chúng sanh mà vẫn tự tại

Do đó, chúng tôi cố gắng tìm hiểu câu tiếng Phạn, và điều chỉnh thành: dhṛṣṇvabhikhyānāya svāhā  siddhāya svāhā  mahā-siddhāya svāhā  siddha-yoge śvarāya svāhā
- dhṛṣṇu (a) = dũng mãnh
- abhikhyāna (n) = danh tiếng, vang danh --- > dh
ṛṣṇu- abhikhyāna = dhṛṣṇvabhikhyāna (u+a = va) = dũng mãnh và vang danh --- > Dative: dhṛṣṇvabhikhyānāya
-
siddha-yogeśvarāya = siddha-yoga- īśvarāya; yoga (m) = sự kết nối, sự thống nhất, hợp nhất --- > Bậc tối thượng trong hợp nhất (với Pháp) được thành tựu siêu nhiên
Cho nên câu 13 trong T.1113b cũng có thể là:

 dhṛṣṇvabhikhyānāya svāhā  siddhāya svāhā  mahā-siddhāya svāhā  siddhā-yoge śvarāya svāhā  = Xin đón chào mừng ngài Dũng Mãnh và Vang Danh!. Xin đón chào mừng ngài Thành Tựu Siêu Nhiên! Xin đón chào mừng ngài Đại Thành Tựu Siêu Nhiên! Xin chào mừng Ngài Tối Thượng Trong Hòa Hợp (với Pháp) Được Thành Tựu Siêu Nhiên!
32. Nīlakantha dhāranī,
http://en.wikipedia.org/wiki/Nīlakantha_dhāranī , Mahā Karuna Dhāranī (大悲咒)
33.
Lokesh Chandra, The Thousand armed Avalokeśvara, Contituted Text Of Vulgate Verision (BH, AM), IGNCA/ abhinav, 1988, p. 93-94
34. Lokesh Chandra, The Thousand armed Avalokiteśvara, IGNCA/ abhinav , 1989, p.133)
35. Lokesh Chandra, Sanskrit Texts from the Imperial Palace at Peking [STP] Parts 1-22 (Origin Of The Avalokiteśvara Of Potala), New Delhi 1968-1977, International Academy of Indian Culture; p. 11-12. Có thể đọc ở : http://himalaya.socanth.cam.ac.uk/collections/journals/kailash/pdf/kailash_07_01_01.pdf )
36. Xem 35. p.13-14
37. Nīlakantha dhāranī, http://en.wikipedia.org/wiki/Nīlakantha_dhāranī
38. Xem 35, p. 10
39. D.T. Suzuki, Manual of Zen Buddhism, London, Rider, 1950. Có thể tìm đọc ở: Lokesh Chandra, The Thousand armed Avalokiteśvara, 1988, p.130-131
40. Xem toàn bộ phần nhận xét của Lokesh Chandra về bản dịch của Suzuki ở : Lokesh Chandra, The Thousand armed Avalokiteśvara, 1988, p.131-133
41. Xem 35. p.15-16
42. http://en.wikipedia.org/wiki/Nīlakantha_dhāranī, Mahā Karuna Dhāranī (
大悲咒) (Đại bi chú)
43.
CBETA (Chinese Buddhist Electronic Text Association)  http://www.cbeta.org/result/normal/T20/1113b001.htm.
44.
Lokesh Chandra, The Thousand Armed Avalokeśvara, 1989, p. 121-129
45. Lokesh Chandra, The Thousand  Armed Avalokiteśvara, IGNCA/abhinav, 1988, p. 134
46. Lokesh Chandra, The Thousand Armed Avalokiteśvara, IGNCA/abhinav, 1988, pp. 164-183

                  ---------------------------------------------------------------

 

 
 
 
GS. Lê Tự Hỷ trình bày Chú Đại Bi tại chùa Từ Tân, Tp. HCM
 

Những bài viết khác trong mục: Lý thuyết › Giảng giải kinh sách
Những bài viết khác trong mục: Lý thuyết › Giảng giải kinh sách
Đang cập nhật dữ liệu...
 
Mọi ý kiến đóng góp hay gởi bài, vui lòng liên hệ : thaytamduc@gmail.com - ĐT: 0969238013